Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO VÀ TÔN GIÁO Ở HUYỆN ĐIỆN BIỆN, TỈNH ĐIỆN BIÊN 1. Một số vấn đề lý luận về công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo 1. Khái niệm “công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo” Công tác QLNN đối với hoạt động tôn giáo là một vấn đề quan trọng luôn được ưu tiên trong hoạt động quản lý của nhà nước. Để hiểu rõ hơn về QLNN đối với hoạt động tôn giáo, trước hết ta cần hiểu về các khái niệm.
“Quản lý”: Nhiều tác giả đã đưa ra các định nghĩa khác nhau về quản lý dựa theo mục tiêu và góc độ nghiên cứu, tuy nhiên hiểu một cách đơn giản, quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý thông qua các công cụ nhằm đạt được mục tiêu đề ra. “Quản lý nhà nước" là một dạng của quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực của nhà nước để điều chỉnh hành vi cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì ổn định và phát triển của xã hội. Theo nghĩa rộng, QLNN gồm 3 chức năng cơ bản là Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp do các cơ quan Nhà nước được phân công thực hiện. Theo nghĩa hẹp, QLNN là dạng quản lý xã hội mang quyền lực Nhà nước để quản lý, điều hành các lĩnh vực của đời sống xã hội theo quy định của pháp luật.
“Tôn giáo” là một thuật ngữ không thuần Việt, được du nhập từ nước ngoài vào từ cuối thế kỷ XIX.Ăngghen đã khẳng định: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào đầu óc con người, của những lực lượng bên ngoài chi phối cuộc sống hằng ngày của họ, chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu nhiên trần thế” (tác phẩm "Chống Đuyrinh") [2, Tr. Trong tác phẩm của mình, C.Mac đã khẳng 11 định “Con người sáng tạo ra tôn giáo chứ tôn giáo không sáng tạo ra con người” [3, Tr. Qua đó có thể thấy, tôn giáo là sản phẩm của con người nên tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, phản ánh tồn tại xã hội đã sản sinh ra nó. Tôn giáo là sản phẩm của một xã hội con người, do đó tôn giáo là một hiện tượng xã hội.
Xét bản chất, tôn giáo là một hiện tượng xã hội vừa thể hiện sự phản kháng trước những đau khổ, bất hạnh của con người, vừa biểu thị sự bất lực của con người trước sức mạnh của tự nhiên và xã hội. Khoản 5, Điều 2 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 02/2016/QH14), đã đưa ra định nghĩa về tôn giáo: “Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức.” Như vậy, khi nói đến một tôn giáo hoàn chỉnh bao gồm: tôn giáo là đại diện cho một cộng đồng người có chung niềm tin vào thế lực siêu nhiên, huyền bí; có hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi; có tổ chức hoạt động từ Giáo hội xuống cơ sở khá chặt chẽ. “Hoạt động tôn giáo” theo Khoản 11 Điều 2 Luật tín ngưỡng, tôn giáo số 02/2016/QH14: “Hoạt động tôn giáo là hoạt động truyền bá tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo và quản lý tổ chức của tôn giáo”. Truyền bá tôn giáo (còn gọi là truyền đạo) là việc tuyên truyền những lý lẽ về sự ra đời, về luật lệ của tôn giáo.
Sinh hoạt tôn giáo (còn gọi là hành đạo) là việc bày tỏ niềm tin tôn giáo, thực hành giáo lý giáo luật, lễ nghi tôn giáo. Hoạt động quản lý tổ chức tôn giáo (còn gọi là quản đạo) nhằm thực hiện quy định của giáo luật, hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo, đảm bảo duy trì trật tự, hoạt động trong tổ chức tôn giáo. “Công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo”: Từ các khái niệm trên, khái niệm về công tác QLNN đối với hoạt động tôn giáo cũng được hiểu theo hai nghĩa. Nghĩa rộng: là quá trình dùng quyền lực nhà nước (quyền Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp) của các cơ quan Nhà nước theo quy định của pháp luật để tác động, điều chỉnh, hướng các quá trình tôn giáo và hành vi hoạt động tôn giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra phù hợp với pháp luật, đạt được mục tiêu cụ thể của chủ thể quản lý.
Nghĩa hẹp: là một dạng quản lý xã hội mang tính chất nhà nước; là 12 chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước; là quá trình chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp để điều chỉnh các quá trình tôn giáo và mọi hành vi hoạt động tôn giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra theo quy định của pháp luật. Nói cách khác, đó là sự quản lý của nhà nước đối với hoạt động của các tín đồ, chức sắc trong việc truyền bá, thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi tôn giáo; quản lý nơi thờ tự, đồ dùng việc đạo, cơ sở vật chất xã hội của các tôn giáo. Khách thể và chủ thể của công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo Quản lý Nhà nước đối với hoạt động tôn giáo là quá trình tác động, điều hành, điều chỉnh của các cơ quan hành pháp để các hoạt động tôn giáo diễn ra theo đúng quy định của pháp luật. Có thể thấy, QLNN đối với hoạt động tôn giáo bao gồm các yếu tố: đối tượng quản lý (khách thể quản lý), chủ thể quản lý.
Trước hết, đối tượng (khách thể) của QLNN đối với hoạt động tôn giáo bao gồm các tổ chức tôn giáo, tín đồ, nhà tu hành, chức sắc và các cơ sở vật chất phục vụ hoạt động tôn giáo như cơ sở tôn giáo, cơ sở vật chất khác và các đồ dùng phục vụ hoạt động tôn giáo. Tổ chức tôn giáo, tại Khoản 12 Điều 2 Luật tín ngưỡng, tôn giáo số 02/2016/QH14: “Tổ chức tôn giáo là tập hợp tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành của một tôn giáo được tổ chức theo một cơ cấu nhất định được Nhà nước công nhận nhằm thực hiện các hoạt động tôn giáo”. Tổ chức tôn giáo thường bao gồm cơ cấu tổ chức (cơ quan quyền lực – giáo quyền) từ trung ương đến cơ sở, hệ thống nơi thờ tự, tu viện, các trường đào tạo chức sắc, cùng với hội đoàn tôn giáo và nguồn tài chính duy trì các hoạt động tôn giáo,…Việt Nam có nhiều tổ chức tôn giáo khác nhau. Mỗi tôn giáo đều có hệ thống tổ chức bộ máy khác nhau.
Hệ thống tổ chức, bộ máy của tổ chức tôn giáo được quy định trong hiến chương, điều lệ, các quy định của tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận. Tín đồ tôn giáo, tại Khoản 6 Điều 2 Luật tín ngưỡng, tôn giáo số 02/2016/QH14: “Tín đồ người tin theo một tôn giáo và được tổ chức tôn giáo thừa 13 nhận”. Khi tham gia hoạt động tôn giáo, tín đồ được tự do bày tỏ đức tin, thực hành các nghi thức thờ cúng, cầu nguyện và tham gia các hình thức sinh hoạt, phục vụ lễ hội, lễ nghi tôn giáo và học tập giáo lý tôn giáo mà mình tin theo. Đồng thời, tín đồ có trách nhiệm tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của người khác; thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo không cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo theo đúng quy định của pháp luật.
Nhà tu hành, tại Khoản 7 Điều 2 Luật tín ngưỡng, tôn giáo số 02/2016/QH14: “Nhà tu hành là tín đồ xuất gia, thường xuyên thực hiện nếp sống riêng theo giáo lý, giáo luật, nghi lễ và tổ chức”. Chức sắc, tại Khoản 8 Điều 2 Luật tín ngưỡng, tôn giáo số 02/2016/QH14: “Chức sắc là tín đồ được tổ chức tôn giáo phong phẩm hoặc suy cử để giữ phẩm vị trong tổ chức”. Các chức sắc tôn giáo có sự thống nhất ba mặt: công dân, hành đạo và đại diện. Về mặt công dân, là người chuyên việc đạo, bình đẳng trước pháp luật về nghĩa vụ và quyền lợi như các công dân khác.
Mặt hành đạo, được Giáo hội đào tạo, tấn phong, bổ nhiệm giữ các phẩm trật khác nhau trong chức vị thánh và chức vị phẩm quyền (tùy theo từng tôn giáo). Chức sắc tôn giáo có uy quyền khác nhau tùy theo phẩm trật, năng lực hành đạo. Mặt đại diện, ở những mức độ khác nhau cho tổ chức giáo hội trong mối quan hệ đối nội và trong quan hệ đạo – xã hội. Ba mặt nói trên thống nhất trong con người chức sắc tôn giáo nhưng không đồng nhất; mặt công dân là số một, các mặt khác là số hai, đặc biệt là mặt hành đạo.
Ở Việt Nam, quyền và nghĩa vụ của chức sắc tôn giáo được quy định trong Luật tín ngưỡng, tôn giáo mới nhất. Trong quan hệ với tín đồ họ là những người nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và có uy tín trong tín đồ tôn giáo. Trong quan hệ với Nhà nước và các tổ chức khác đặc biệt là tổ chức tôn giáo nước ngoài, họ là người đại diện cho tổ chức tôn giáo để giải quyết các công việc có liên quan đến tôn giáo. “Cơ sở tôn giáo” tại Khoản 14 Điều 2 Luật tín ngưỡng, tôn giáo số 02/2016/QH14 gồm chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh nhất, thánh đường, trụ sở của tổ chức tôn giáo, cơ sở hợp pháp khác của tổ chức tôn giáo.
Cơ sở tôn giáo có sự 14 thống nhất giữa bốn mặt: vật chất, tôn nghiêm, trụ sở và sinh hoạt cộng đồng. Mặt vật chất, đó là những địa điểm được xây dựng bằng vật liệu khác nhau, theo những mô hình kiến trúc khác nhau, thể hiện niềm tin của từng tôn giáo. Mặt tôn nghiêm, là nơi bái vọng, ngưỡng mộ, biểu hiện tình cảm và đức tin tôn giáo, nơi diễn ra những nghi lễ tôn giáo quan trọng. Mặt trụ sở, là nơi diễn ra hoạt động hành chính của đạo.
Mặt sinh hoạt cộng đồng, là nơi diễn ra các lễ hội tôn giáo, nơi sinh hoạt các hội đoàn tôn giáo…Trong các mặt trên, tôn nghiêm là mặt chi phối. Cơ sở vật chất khác như khuôn viên (tạo nên cảnh quan kiến trúc văn hoá môi trường), ruộng, đất, nhà chung, trường học, cơ sở từ thiện,. những cơ sở vật chất kỹ thuật này có hai mặt cơ bản.