Chương 1 trình bày về lợi ích mà chương trình ASXH đem lại cho người lao động nghỉ hưu và người tàn tật. Chương 2 tập trung phân tích Luật ASXH. Chương 3 làm rõ hoạt động của quỹ tín ASXH. Chương 4 chỉ ra lợi ích hàng tháng của những người thụ hưởng ASXH dưới độ tuổi nghỉ hưu.
Chương 5 phân tích các loại thuế ASXH hàng năm của Mỹ. Chương 6 phân tích một số đề xuất nhằm thu hẹp khoảng cách tài 17 chính trong dài hạn của ASXH. Chương 7 trình bày lợi ích của ASXH đối với những người nghỉ hưu và người lao động khuyết tật và vợ/chồng của họ cùng những người phụ thuộc. Chương 8 chỉ ra trách nhiệm của những người thụ hưởng ASXH trong chi trả dịch vụ y tế.
Chúng ta có thể thấy những phác thảo đang nổi lên về tương lai của cải cách ASXH. Những thay đổi được đưa ra bao gồm sự gia tăng lợi ích nhỏ, sự điều chỉnh chi phí sinh hoạt công cộng với những sự sử dụng chỉ số giá tiêu dùng cho người cao tuổi, lợi ích tối thiểu đặc biệt gia tăng, sự tăng lên giới hạn thuế ASXH, áp đặt thuế lương từ ASXH đối với những người có thu nhập cao, bao gồm thu nhập bị đánh thuế và gia tăng đều đặn trong tỷ lệ thuế từ lương. Những công trình đã cung cấp cơ sở lý luận, làm rõ các khái niệm về vấn đề ASXH trong quá trình phát triển cũng như nhấn mạnh quan điểm việc thực hiện an sinh xã hội với trọng tâm là đẩy mạnh phát triển lĩnh vực giáo dục, y tế, chăm lo đời sống vật chất tinh thần cho người lao động; đồng thời mở rộng cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trong giáo dục, y tế, nước sạch, điện, đường giao thông, trường học, nhà ở. Các công trình nghiên cứu đã nhấn mạnh phương pháp tiếp cận, cách thức tham gia của các thành viên xã hội (trong đó có tôn giáo) và cả cộng đồng vào việc nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách.
Qua đó cho thấy, các công trình rất hữu ích cho việc tham khảo, kế thừa trong nghiên cứu đánh giá thực trạng ASXH và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tham gia hoạt động ASXH đối với TGNS. Như vậy, các công trình nghiên cứu trên đã tập trung phân tích lịch sử và một số vấn đề lý luận về ASXH, khái niệm ASXH; đánh giá những vấn đề bất bình đẳng xã hội, nghèo khổ và xung đột xã hội; đánh giá các thành tựu, hạn chế và một số mô hình nhà nước phúc lợi, mô hình ASXH ở một số nước trên thế giới. Đây là những tư liệu quý giúp tác giả kế thừa cho luận án của mình 1. Các công trình nghiên cứu hoạt động an sinh xã hội của tôn giáo Tài liệu tiếng Việt Đỗ Quang Hưng (2010), Nhân vật của những thời điểm lịch sử (Một trang 18 sử mới) [62].
Tác giả phân tích bối cảnh Giáo hội Công giáo miền Nam Việt Nam nói chung và các tổ chức từ thiện, giáo dục, y tế của Công giáo miền Nam Việt Nam nói riêng trong thời điểm lịch sử năm 1975 một cách khách quan, đa chiều. Đồng thời đánh giá cao thái độ hòa giải của Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình được thể hiện trong việc thành lập các trường tư thục và xem đây như là một trong những giải pháp thực hiện chủ trương miễn học phí của Chính phủ, vấn đề đó được Ông khẳng định: "Sẵn sàng để Nhà nước sử dụng các cơ sở tư thục Công giáo trong giáo phận Sài Gòn vào công tác giáo dục ngay từ niên khóa 1975-1976.119] và theo Ông, cũng chính điều này đã giúp cho người giáo dân ở Việt Nam hội nhập vào xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa. Nguyễn Hồng Dương (2012), Quan điểm, đường lối của Đảng về tôn giáo và những vấn đề tôn giáo ở Việt Nam hiện nay [33]. Tác giả đã phân tích những ảnh hưởng của tôn giáo đối với đời sống xã hội trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội theo cách nhìn mới đa chiều, nhất là ở chiều hướng tích cực theo tinh thần Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 16/10/1990 của Bộ Chính trị.
Bên cạnh đó, tôn giáo còn được xác định là nguồn lực lớn đối với tín đồ và xã hội (nguồn lực vật chất và nguồn lực tinh thần. Trong đó nguồn lực vật chất của tôn giáo đã góp phần làm giảm thiểu những rủi ro trong cuộc sống, những hoàn cảnh khó khăn, các gia đình bất hạnh để xã hội phát triển bền vững). Nội dung và tinh thần ấy được thể hiện: ". tôn giáo ngày càng có nhiều đóng góp vào các lĩnh vực văn hóa, xã hội, từ thiện, chia sẻ gánh nặng cho đất nước" [33, tr.
Nguyễn Thanh Xuân (2015), Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam [119]. Tác giả đã nêu tổng quan tình hình, tổ chức tôn giáo và việc tham gia hoạt động ASXH xuất phát từ nền tảng giáo lý, giáo luật của các tôn giáo; hướng thiện, quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ nhau trong lúc khó khăn là một trong những nội dung tiêu biểu và đây là điểm chung của nhiều tôn giáo. Đối với Phật giáo có lời dạy rất nhân văn và gần gũi với cuộc sống thực tiễn hàng ngày của mọi người, đó là: "Dẫu xây chín bậc phù đồ/Không bằng làm phúc giúp cho một người" [119, tr.379-380]; Công giáo có những điều Chúa dạy trong cuộc sống phải biết sẻ chia nhau lúc gặp khó khăn: ". cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách mặc, cho 19 kẻ khác ở nhờ" [119, tr.381]; với PGHH, Đức Huỳnh Giáo chủ khuyên mọi người hãy sống có lòng từ bi, giúp người khi người khó khăn bất hạnh được diễn đạt bằng các câu thơ: "Của dư cho mượn mới là/Chỉ bằng bố đức lập nền từ bi" [119, tr.
Bên cạnh đó, tác giả đã cung cấp cho chúng ta nhiều số liệu các tôn giáo tham gia hoạt động ASXH rất có giá trị mà luận án có thể kế thừa và sử dụng. Các tác giả đã giới thiệu tiểu sử, vai trò và những thành tích đóng góp của các cá nhân, tổ chức từ thiện, bác ái của Công giáo thế giới và Việt Nam trong sự phát triển xã hội. Điều đó đã minh chứng cho vai trò, trách nhiệm xã hội của tôn giáo đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển xã hội trên các lĩnh vực như: y tế, giáo dục, xóa đói giảm nghèo, bảo trợ xã hội, phòng chống các tệ nạn xã hội, cứu trợ thiên tai, lũ lụt… Vụ Pháp chế - Thanh tra, Ban Tôn giáo Chính phủ (2008), Báo cáo tổng quan Dự án khoa học, Khảo sát thực trạng tôn giáo tham gia xã hội hóa về giáo dục, y tế, từ thiện nhân đạo ở Việt Nam hiện nay - Những kiến nghị và giải pháp [117]. Báo cáo đã phân tích mặt ưu điểm mang lại nhiều thành tựu trong những năm qua; đồng thời cũng chỉ ra những bất cập, vướng mắc trong quá trình thực thi chủ trương xã hội hóa giáo dục, y tế và từ thiện nhân đạo của Đảng và Nhà nước.
Trên cơ sở đánh giá thực trạng về vai trò tham gia thực hiện chủ trương trên của các tôn giáo, từ đó có những giải pháp đề xuất với các ngành chức năng xem xét điều chỉnh phù hợp thực tế. Thích Giác Toàn (2009), Đôi nét về hoạt động từ thiện trong thời hội nhập [104]. Nội dung bài viết đã phản ảnh những kết quả đạt được của Giáo hội Phật giáo Việt Nam về tham gia hoạt động ASXH qua tổng kết đánh giá hoạt động Phật sự từ nhiệm kỳ I đến nhiệm kỳ V. Trên cơ sở thành tích đạt được trong thời gian qua, tác giả nêu ra một số nội dung mang tính định hướng cho hoạt động từ thiện xã hội của Phật giáo nhất là các hoạt động tham gia ASXH 20 trong thời kỳ hội nhập quốc tế.
Từ kết quả đạt được và nội dung định hướng mà tác giả đã cung cấp cho thấy, Phật giáo có điều kiện tốt hơn để tiếp tục thực hiện nhiều hoạt động ASXH, từ thiện, phạm vi và quy mô ngày càng mở rộng. Lê Tâm Đắc (2009), Vấn đề từ thiện xã hội của Phật giáo Việt Nam hiện nay [43]. Tác giả đã phân tích tính một trong những nội dung tiêu biểu của nguyên lý nhập thế rất căn bản của Phật giáo trong hoạt động từ thiện xã hội là góp phần tích cực tham gia hoạt động ASXH. Tác giả còn phân tích sâu hơn nét khác biệt về bản chất, từ thiện xã hội của Phật giáo so với một số tôn giáo khác; phân tích, đánh giá những đóng góp tích cực, đa dạng từ tham gia hoạt động ASXH, từ thiện xã hội của Phật giáo trên từng lĩnh vực (giáo dục, y tế, cứu trợ…).
Nguyễn Thị Minh Ngọc (2014), Vài nét về hoạt động từ thiện xã hội của các tôn giáo tại Việt Nam hiện nay [82]. Nội dung bài viết đã thể hiện bức tranh sinh động về các hoạt động từ thiện xã hội, trong đó có nhiều hoạt động tôn giáo tham gia thực hiện chính sách ASXH. Bằng nhiều mô hình hoạt động đa dạng, phong phú các tôn giáo đã kịp thời hỗ trợ, giúp đỡ cho rất nhiều gia đình nghèo khó, gặp phải rủi ro, bất hạnh, bệnh tật. Trên cơ sở thực trạng, tác giả có những đề xuất kiến nghị với Đảng, Nhà nước và Giáo hội những giải pháp rất cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động này trong thời gian tới.
Trần Thị Thu Hiền (2014), Sự hình thành tổ chức từ thiện xã hội Công giáo trên thế giới [54]. Nội dung bài viết đã góp phần làm rõ bối cảnh, sự hình thành và phát triển các tổ chức từ thiện xã hội, các dòng tu và phong trào của Công giáo trên thế giới. Mặc dù lịch sử ra đời từng thời điểm khác nhau, hoàn cảnh khác nhau, số lượng thành viên khác nhau, song các tổ chức này đều có chung động lực là giúp đỡ những gia đình có cuộc sống thiếu trước hụt sau, những người già neo đơn hay tuổi thơ bất hạnh, nhiễm chất độc màu da cam. , góp phần giảm bớt đau khổ, vượt qua những khó khăn, chia sẻ nổi đau bất hạnh, giúp con người thăng tiến.
Nội dung hoạt động mà tác giả phản ảnh trong bài viết có nhiều hoạt động tham gia thực hiện chính sách ASXH của tổ chức tôn giáo. Đây là những vấn đề có liên quan đến việc chúng tôi khảo sát đánh giá về thực trạng tham gia hoạt động ASXH của ba TGNS mà luận án đề cập. 21 Diệu Thanh (2016), Đóng góp của các tổ chức tôn giáo đối với một số hoạt động xã hội ở một số nước châu Âu [98, tr.