Chương 1 TỔNG QUAN 1. CÁC TƯ LIỆU LIÊN QUAN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các công trình nghiên cứu về vùng đất và cư dân vùng Tây Nam Bộ Nghiên cứu về vùng đất và con người Tây Nam Bộ, đã có nhiều công trình khoa học và tiêu biểu là: Sơn Nam với sách Đồng bằng sông Cửu Long: Nét sinh hoạt xưa và văn hóa miệt vườn [99], đã hệ thống quá trình khai khẩn vùng đất Tây Nam Bộ thuở xa xưa, nơi "rừng thiêng, nước độc", song được cư dân nơi đây dày công biến thành vùng đất trù phú, thành vựa lúa lớn nhất Việt Nam. Cũng ở nơi đây, cư dân đã lập nên những "miệt vườn" với những nét riêng có ở vùng Tây Nam Bộ.
Môi trường sống được cải thiện, dưới nước có cá, có lúa, trên bờ có cây trái, chim, thú. Tất cả tạo ra môi trường sống khá thuận lợi, từ đó cũng dần tạo nên đời sống tinh thần phong phú và phóng khoáng của cư dân ở đây. Cuốn sách là tài liệu có ý nghĩa giúp nghiên cứu sinh đưa ra nhận định và giải pháp nhằm hài hòa các giá trị văn hóa trong đời sống tinh thần người dân vùng Tây Nam Bộ với văn hóa đạo Tin Lành. Phạm Văn Búa, "Tìm hiểu đặc điểm cư dân và tâm lý người dân đồng bằng sông Cửu Long nhằm thực hiện có hiệu quả chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc" [15].
Bài viết nghiên cứu nhiều tài liệu lịch sử, như: "Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Cửu Long" của các tác giả Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường; "Phủ Biên Tạp Lục" của Lê Quý Đôn; quyển "Lịch sử khẩn hoang Nam Bộ" của nhà Sử học Huỳnh Lứa;… Qua đó, bài viết đúc kết: 4 cộng đồng dân tộc chính ở TNB, mặc dù có lịch sử hình thành, ngôn ngữ và một số nét văn hóa khác nhau nhưng qua quá trình cộng cư, đã đoàn kết hỗ trợ nhau vượt qua thiên tai, dịch họa, tạo nên điều kiện tự nhiên, xã hội, con 8 người, dân tộc, tôn giáo mang nét riêng ở vùng Tây Nam Bộ, đặc biệt là các đức tính quí báu của cư dân: tự lực, tự cường, phóng khoáng, chịu thương, chịu khó, sáng tạo, năng động, kiên cường, bất khuất. Phan Huy Lê, Chủ nhiệm đề tài: Quá trình hình thành và phát triển vùng đất Nam Bộ [86]. đã hệ thống hóa khá đầy đủ về quá trình hình thành, phát triển, cùng các thiết chế văn hóa, đặc điểm dân cư, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo vùng TNB. Sự hấp dẫn của vùng đất mới TNB đã thu hút nhiều dân tộc, mà nhiều nhất là 4 dân tộc Kinh, Khmer, Chăm, Hoa.
Sự giao thoa văn hóa là một nguyên nhân để vùng này trở thành cái nôi hình thành nhiều tôn giáo bản địa mang bản sắc khu vực, ít lan tỏa sang khu vực khác, đã tạo nên bức tranh phong phú, đa sắc màu tâm linh của cư dân vùng TNB. Qua tác phẩm này, tác giả thấy mối quan hệ giữa đời sống vật chất với đời sống tinh thần của cư dân vùng TNB, từ đó làm rõ hơn ảnh hưởng của đạo Tin Lành đến đời sống tinh thần, tôn giáo của cư dân TNB hiện nay. Trần Ngọc Thêm, Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ [126]. Tác giả đặt TNB là một vùng văn hóa riêng biệt thuộc "miền văn hóa Nam Bộ", nơi có sự hòa nhập văn hóa Việt - Khmer - Hoa - Chăm, nơi có sự giao thoa, hội nhập với văn hóa Phật giáo, văn hóa Nho giáo, nơi có sự ứng xử với văn hóa phương Tây.
Tác giả đã hệ thống nét văn hóa đặc trưng qua tính cách con người, văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức, văn hóa ứng xử, tín ngưỡng, tôn giáo của người Việt ở TNB. Cuốn sách giúp nghiên cứu sinh nhận thức rõ hơn về văn hóa truyền thống và khuynh hướng biến đổi ở TNB hiện nay, từ đó có khuyến nghị sát hợp. Nhóm tác giả thuộc Hội Khoa học lịch sử Việt Nam do Vũ Minh Giang chủ biên, cùng với Nguyễn Quang Ngọc, Lê Trung Dũng, Cao Thanh Tân, Nguyễn Sĩ Tiến, có sách Lược sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam [105]. Nội dung cuốn sách khái quát những nét cơ bản nhất của vùng đất và con người Nam Bộ, từ thế kỷ thứ I đến nay.
9 Cuốn sách có giá trị tham khảo, giúp nghiên cứu sinh cập nhật thêm những vấn đề cơ bản về quá trình hình thành và phát triển của vùng TNB và là cơ sở để giải quyết các vấn đề xã hội liên quan của đạo Tin Lành. Kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học nêu trên là nguồn tư liệu liên quan trực tiếp đến đề tài luận án. Qua đó, nghiên cứu sinh có cơ sở khoa học để so sánh, đánh giá, khuyến nghị một cách khách quan về mối quan hệ biện chứng, quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội khi nhận thức về xã hội, con người vùng TNB với sự phát triển của đạo Tin Lành. Các công trình nghiên cứu về đạo Tin Lành 1.
Các công trình nghiên cứu liên quan đến đạo Tin Lành trên thế giới và ở Việt Nam nói chung Nguyễn Thanh Xuân, Bước đầu tìm hiểu đạo Tin Lành trên thế giới và ở Việt Nam [143]; Nguyễn Thanh Xuân (chủ biên), Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam [146]. Qua 02 công trình này, tác giả đã trình bày bao quát quá trình ra đời và phát triển của đạo Tin Lành ở Việt Nam và trên thế giới; giáo lý, giáo luật, tổ chức giáo hội; sự giống và khác nhau giữa Tin Lành và Công giáo, cung cấp cho đọc giả kiến thức cơ bản về đạo Tin Lành trên thế giới và ở Việt Nam. Với hai công trình này, nghiên cứu sinh hiểu thêm về đạo Tin Lành; về sự hình thành, du nhập, phát triển của đạo Tin Lành ở Việt Nam; về chính sách, pháp luật đối với tôn giáo nói chung và với Tin Lành nói riêng. Hoàng Minh Đô - Chủ nhiệm đề tài, Đạo Tin Lành ở Việt Nam - Thực trạng, xu hướng phát triển và những vấn đề đặt ra trong lãnh đạo, quản lý [35].
Chủ nhiệm đề tài khái quát tương đối đầy đủ về đạo Tin Lành ở Việt Nam, thực trạng hoạt động, nguyên nhân, ảnh hưởng, xu hướng phát triển và vấn đề đặt ra cho công tác đối với đạo Tin Lành ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp nghiên cứu sinh khái quát về những vấn đề đặt ra cho công tác đối với đạo Tin Lành ở Việt Nam, từ đó có cơ sở để nhận định về vấn đề đặt ra cho công tác đối với đạo Tin Lành ở TNB. 10 Phạm Hồng Thái (chủ biên), Sự truyền bá và phát triển của đạo Tin Lành ở một số nước và vùng lãnh thổ Đông Bắc Á [119]. Đề tài chỉ rõ, đạo Tin Lành có mặt tại vùng Đông Bắc Á gắn liền với hoạt động củng cố địa bàn thực dân và mở rộng thị trường của các Đế quốc phương Tây, điển hình là Mỹ, Anh, Hà Lan.
Tin Lành có đóng góp nhất định vào đời sống văn hóa xã hội. Quan hệ của đạo Tin Lành với nhà nước ở từng nước cũng có nét đặc thù. Ở các nước theo mô hình tư bản chủ nghĩa, các tổ chức Tin Lành dù chưa có xung đột với chính quyền, nhưng cũng không đơn giản xuôi chiều. Tại các nước theo mô hình xã hội chủ nghĩa, đạo Tin Lành nhiều khi bị lợi dụng làm công cụ gây chia rẽ dân tộc, làm mất ổn định xã hội, can dự vào đời sống chính trị âm mưu lật đổ chính quyền do Đảng Cộng Sản lãnh đạo.
Vậy, các nhà nước vẫn kiểm soát các hoạt động tôn giáo nói chung và hoạt động của đạo Tin Lành nói riêng. Công trình này là cơ sở để nghiên cứu sinh nhận xét về mặt tích cực của đao Tin Lành trong đời sống xã hội vùng TNB, đồng thời quan tâm đến vấn đề đạo Tin Lành bị chính trị lợi dụng. Đỗ Quang Hưng, "Vài nhận xét về Tin Lành Mỹ'' [70], tác giả đã chỉ ra một số nhận xét và một số đặc trưng của Tin Lành Mỹ. Điều đó đã giúp nghiên cứu sinh có thêm cơ sở để nhận định sâu sắc hơn về ảnh hưởng của Tin Lành đối với vùng TNB, nơi có nhiều hệ phái Tin Lành xuất thân từ Mỹ.
Trần Hồng Liên "Sự chuyển đổi tôn giáo trong người Khmer ở Trà Vinh hiện nay'' [88, tr. Trần Hữu Hợp, "Sự cải giáo của một bộ phận người Khmer vùng Tây Nam Bộ" [65, tr. Hai tác giả đã khái quát sự chuyển đổi tôn giáo sang đạo Tin Lành trong người Khmer, nhất là từ 10 năm trở lại đây, nêu một số nguyên nhân từ những biến đổi trong sinh hoạt của tu sĩ Phật giáo Nam tông Khmer đưa đến tình trạng cải đạo, dự báo xu hướng truyền đạo vào cộng đồng người Khmer trong thời gian tới. 11 Hai bài viết có giá trị tham khảo cho tác giả luận án khi viết về vấn đề đạo Tin Lành phát triển vào dân tộc Khmer ở vùng TNB.
Vũ Thị Thu Hà, "Nguyên nhân Tin Lành phát triển nhanh trong vùng dân tộc đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên hiện nay [42, tr. Bài viết đã khái quát một số nguyên nhân Tin Lành phát triển nhanh trong vùng dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên. Đó là: sự thay đổi thể chế chính trị, hoàn cảnh sống, phương thức truyền giáo, giá trị đạo đức của đạo Tin Lành và một số nguyên nhân khác. Bài viết thêm dữ liệu để nghiên cứu sinh so sánh và đánh giá tại sao Tin Lành khó phát triển vào vùng dân tộc ở TNB so với vùng Tây Nguyên.
Vũ Thị Thu Hà, "Những đóng góp của Tin Lành thời kỳ đầu du nhập vào Trung Quốc và Việt Nam" [43, tr. Bài viết phân tích nguyên nhân chính dẫn đến sự khác biệt về mức độ ảnh hưởng đến xã hội của Tin Lành đến Trung Quốc và Việt Nam ở thời kỳ đầu truyền giáo thông qua các lĩnh vực như y tế, thông tin, báo chí, từ thiện xã hội, và thúc đẩy giao lưu văn hóa. Những nguyên nhân có thể được nghiên cứu sinh tham khảo, vận dụng vào thực tế ảnh hưởng của đạo Tin Lành ở vùng TNB. Trần Thị Phương Anh, "Quan niệm của Tin Lành về các mối quan hệ gia đình qua Kinh Thánh'' [1, tr.
Bài viết đã tìm hiểu các qui tắc ứng xử liên quan đến mối quan hệ trong gia đình của đạo Tin Lành được thể hiện trong Kinh Thánh như: hôn nhân, cha mẹ - con cái, anh chị em, qua đó chỉ ra yếu tố tích cực của các mối quan hệ đó.