Chương 1 TONG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VA CHUA LONG TIÊN Ở THÀNH PHO HẠ LONG 1. Những khái niệm, thuật ngữ cơ bản Tín ngưỡng, tôn giáo ra đời, tồn tại và phát triển cùng với lịch sử loài người, tạo nên đời sống tinh thần, đời sống tâm linh, tình cảm vô cùng phong phú. Là niềm tin của con người vào thế giới siêu nhiên, vô hình gọi là “cái thiêng”. Cho đến nay, ở các hướng tiếp cận khác nhau, dưới các góc độ tư tưởng, văn hóa, triết học, chính trị,.các nhà nghiên cứu đã đưa ra các giải thích khác nhau về khái niệm “ton giáo ” và “tin ngưỡng”.
Có thê nói, hai khái niệm trên có mối quan hệ mật thiết không hoan toàn tach rời nhau, mà chúng chính là tiền đề của nhau, bé trợ cho nhau dé hoàn chỉnh hơn. Trong công trình này, tôi xin phép được nêu một số cách hiểu về khái niệm trên đang được các nhà khoa học công nhận và sử dụng nhiều nhất dưới góc độ nghiên cứu về văn hóa, Việt Nam học. - Tin ngưỡng Theo quan điểm truyền thống, người ta coi tín ngưỡng ở trình độ phát triển thấp hơn so với tôn giáo. Theo cuốn Từ điển tín ngưỡng, tôn giáo thì Tín ngưỡng là lòng tin và sự ngưỡng mộ, ngưỡng vọng vào một lực lượng siêu nhiên, thần bí [7, tr.
Ngô Đức Thịnh thì tín ngưỡng là một hình thức thể hiện niềm tin vào cái thiêng liêng của con người, của một cộng đồng người nào đó ở một trình độ phát triển xã hội cụ thé [23, tr. - Tôn giáo Theo cuén Tir điển tín ngưỡng, tôn giáo thì tôn giáo là mọi niềm tin vào lực lượng siêu nhiên, vô hình mà con người cho là linh thiêng, được con người sùng bái và cầu khan dé nhờ cậy che chở hoặc ban phát điều tốt lành [7, tr. 12 - Lễ hội tin ngưỡng Là hình thức hoạt động tín ngưỡng có tô chức, thé hiện sự tôn thờ, tưởng niệm va tôn vinh những người có công với nước, với cộng đồng, thờ cúng tô tiên, biểu tượng có tính truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội. - Tổ chức tôn giáo Là tập hợp những người cùng tin theo một hệ thống giáo lý, lễ nghi và tổ chức theo một cơ cấu nhất định được Nhà nước công nhận.
-Cơ sở tôn giáo Là nơi thờ tự, tu hành, nơi đào tạo người chuyên hoạt động tông giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo và những cơ sở khác của tôn giáo được Nhà nước công nhận. -Tin đồ là người tin theo một tôn giáo và được tô chức tôn giáo thừa nhận. - Chùa Theo Tir điển Tin ngưỡng, tôn giáo thé giới và Việt Nam của tác giả Mai Thanh Hải thì Chùa đầu tiên là nơi tryền bá và tu luyện theo lý tưởng Tứ Diệu Đề và Thập nhị nhân duyên, sau biến dần thành nơi thờ Phật [7, tr. - Du lịch Theo Luật Du lịch Việt Nam 2005, khái niệm du lịch được xác định chính thức như sau: “Du lịch là hoạt động có liên quan đến chuyến di của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu câu tìm hiểu, tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”[56].
Như vay, có thé nhận thay rang du lịch vừa mang lại lợi ich cho du khách vừa mang lại những thay đổi về lợi ích kinh tế- xã hội cho cộng đồng địa phương. - Du lịch di sản văn hóa Theo Theo Ủy ban Quốc gia về Bảo tồn Lịch sử Hoa Ky, “du lịch di sản là du lịch dé trải nghiệm những địa điểm và hoạt động thể hiện chính xác những câu chuyện và con người trong quá khứ [57J. Đây là những hoạt động kết nỗi du khách với văn hóa, môi trường tự nhiên và cộng đồng dân cư địa phương ở các khu di sản. Quan điểm lý thuyết Đề làm rõ bản chất của Trúc Lâm Tam té với tu cách là các vị tổ sáng lập ra thiền phái Trúc Lâm- Phật giáo Việt Nam, tín ngưỡng thờ bà chúa Ba ( Quan Âm Bồ Tát) những người đã giải thoát sanh tử cho chính mình và độ chúng sanh thoát khỏi trầm luân muôn kiếp [25, tr.
Trần Hưng Đạo, Trần Quốc Nghiễn với tư cách là đức Thánh, đức Ông, của tín ngưỡng dân gian Việt Nam tác giả sẽ sử dụng một số lý thuyết dé tiếp cận gồm: - Ly thuyết thực thể tôn giáo Lý thuyết này được nhắc đến trong Triển khai lý thuyết nghiên cứu thực thể tôn giáo, Tạp chí nghiên cứu Tôn giáo của tác giả Nguyễn Quốc Tuan như sau: “Thứ nhất, nó được nhận thấy và áp đặt cho tất cả. Thứ hai, nó là thực thé không suy đoán được bản chất, cũng chang giả định về tình trạng luân lý hay nhận thức luận có đồng ý với nó hay không. Thứ ba, nó là thực thê bao hàm. Không một tôn giáo nào có ưu thế hơn, được coi là chân lý, là đáng tin cậy hơn các tôn giáo khác.
Tôi nhận thấy việc áp dụng lý thuyết này khi nghiên cứu về Trúc Lâm tam tô, lễ hội thờ Trần Hưng Đạo, Trần Quốc Nghiễn là cần thiết, các nhân vật thờ có tư cách một “thực thé tôn giáo” hay "thực thé tín ngưỡng" chiếm vi trí, ý nghĩa quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân địa phương hàng thế kỷ qua. Các di tích lich sử đền, chùa, miéu mạo, các tác phẩm văn học, các lễ nghi theo mùa lịch, kinh kệ còn lưu truyền qua các thế hệ. Tóm lại, thực thể tôn giáo là một khái niệm dùng để chỉ toàn bộ hiện thực tôn giáo tồn tai trong lịch sử đồng thời là một thiết chế và kết cau của đời sống xã hội, chịu sự tác động từ các mối quan hệ và tương tac với các thiết chế xã hội khác như kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoc. dé tạo ra sức lan tỏa của lễ hội.
- Ly thuyết cau trúc-chức năng Trong lĩnh vực xã hội học học, thuyết cau trúc và thuyết chức năng với các biến thé của chúng đã tạo thành thuyết cấu trúc — chức năng tập hợp nhiều tác giả khác nhau tham gia nghiên cứu, xây dựng. Trong số đó nổi bật nhất là Talcott Parsons 14 (1902-1979), Robert Merton (1910-2003) và Peter Blau (1918-2002). Tôi đã áp dụng lý thuyết này dé lý giải những chức năng xã hội của chùa Long Tiên và vị trí chùa Long Tiên trong tong thé cấu trúc du lich của thành phố Hạ Long. Theo Parsons vị thế-vai trò với tính cách là một tiểu hệ thống có tổ chức của một người hay nhiều người chiếm giữ những vị thế đã cho và hành động hướng vào nhau theo các xu hướng tương tác nhất định.
Tác giả đã áp dụng lý thuyết trên vào việc luận giải vai trò và tác động qua lại giữa người chủ trì thực hiện nghỉ lễ thờ cúng ở chùa Long Tiên với các tín đồ, phật tử và du khách thập phương. Người dân đến tham dự lễ hội là để thực hành đức tin của mình như một phần của cộng đồng tôn giáo. Cuối thé kỷ 20, chủ thuyết cấu trúc — chức năng được phát triển lên một bước nữa nhờ những đóng góp của nhà xã hội học nổi tiếng người Mỹ là Peter Blau (1918-2002), Blau đã cung cấp cách nhìn nhận mới để giải đáp một câu hỏi cơ bản của xã hội học: cái gì tạo nên sự thống nhất xã hội? Blau cho rằng nhất định có một loại liên kết xã hội, một loại quan hệ xã hội nào đó có khả năng tạo ra sự thống nhất xã hội. Theo ông, sự kết hợp của các nhóm và các tầng lớp xã hội khác nhau thành một thê thong nhat khong thé chi dựa vào mối phụ thuộc lẫn nhau về mặt chức năng mà đòi hỏi sự tương tác xã hội thực sự giữa các thành viên [9].
Từ lý thuyết này, tác giả luận văn đã chỉ ra mối liên kết giữa các tin đồ, phật tử ở chùa Long Tiên, thé hiện khả năng liên hệ giữa những người có cùng chung niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng thông qua hoạt động thờ cúng, và sự giao tiếp với thánh thần được xem là giao tiếp tối cao. Việc tổ chức lễ hội ở chùa Long Tiên đòi hỏi sự cố kết cộng đồng lớn giữa nhân dân trong vùng và thống nhất tổ chức giữa các di tích với nhau. -Lý thuyết phát triển du lịch bên vững Theo điều 4 Luật Du lịch (2017): Du lịch bền vững là sự PTDL đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm tốn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch của tương lai [32]. PTDL bền vững là một cơ hội tốt cho du lịch di sản phát triển bởi tính đặc thù của loại hình du lịch này, từ đó có hiệu ứng tích cực cho QLDT [16, tr.
15 Phát triển du lịch bền vững dựa trên trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hoà giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội, phát triển văn hoá, phát triển con người, bảo vệ môi trường. Đó là cơ sở pháp lý dé các bộ, ngành, địa phương, các tô chức và cá nhân có liên quan triển khai thực hiện và phối hợp hành động, nhăm bảo đảm phát triển bền vững đất nước, đồng thời thé hiện sự cam kết của Việt Nam với quốc tế. Với cách tiếp cận này, DTLS-VH chùa Long Tiên là kênh kết nối mang tính đặc hữu khi làm cho điểm du lịch này không lẫn với điểm du lịch khác, là kênh thu hút, giữ chân du khách lưu lại lâu hơn và quan trọng nhất là làm cho du khách quay trở lại. Do đó bên cạnh bảo vệ môi trường sinh thái, văn hóa nói chung, nhà tô chức hoạt động du lịch cần quan tâm bảo ton, phat huy gia tri di tich.
Cac văn bản quy phạm pháp luật liên quan Nhận thức được tầm quan trọng của ngành du lịch đối với sự phát triển chung của kinh tế xã hội thành phố Hạ Long nói riêng, tỉnh Quảng Ninh nói chung. Công tác bảo tồn, khai thác và phát huy di sản văn hóa trong phát triển du lịch đã được Đảng và Nhà nước, chính quyền địa phương quan tâm bằng các việc làm thiết thực như: Trùng tu, tôn tạo các di tích, tuyên truyền, quảng bá, giáo dục đào tạo nguồn nhân lực phục vụ du khách tại các di tích, ban hành các luật, nghị quyết, thông tư,.nhằm thiết lập hệ thống hành lang pháp lý, tạo điều kiện thúc day phát triển kinh tế du lịch của địa phương.