phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục công trình nghiên cứu gồm có 2 chƣơng và 5 tiết: 10 Footer Page 12 of 107. Header Page 13 of 107. Chƣơng 1 TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TÔN GIÁO 1. Cơ sở hình thành tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về tôn giáo.
Hồ Chí Minh, Chủ tịch nƣớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lãnh tụ xuất sắc của phong trào công nhân và cộng sản quốc tế, Chủ tịch Đảng Công sản Việt Nam luôn đứng vững trên lập trƣờng của chủ nghĩa Mác-Lênin về tôn giáo và vận dụng tôn giáo một cách sáng tạo, linh hoạt phù hợp với thực tiễm cách mạng Việt Nam. Hồ Chí Minh là ngƣời Việt Nam đầu tiên soạn thảo và ban bố sắc lệnh tôn trong tự do tín ngƣỡng, tôn giáo của nhân dân Việt Nam. Ngƣời luôn tôn trọng tự do tín ngƣỡng của nhân dân không cả trong tƣ tƣởng mà cả trong hành động cụ thể. Với Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc, trong đó có đại đoàn kết giữa những ngƣời có tín ngƣỡng và những ngƣời không có tín ngƣỡng, giữa những ngƣời có tín ngƣỡng khác nhau, tất cả đều vì mục tiêu độc lập dân tộc vì hạnh phúc của nhân dân, vì sự phát triển và hoàn thiện của mỗi cá nhân con ngƣời Việt Nam vì sự phát triển của dân tộc.
Vấn đề tôn giáo có rất sớm trong tƣ tƣởng của Nguyễn Ái Quốc, chúng ta đều biết rằng từ đầu 1921, mối quan tâm lớn nhất của Nguyễn Ái Quốc là mở rộng các hoạt động trong Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa Pháp và bắt đầu truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin về trong nƣớc. Nhƣng có điều đặc biệt là, bên cạnh việc gắn bó với thợ thuyền , Hội những người Việt Nam yêu nước ở Pháp, Nguyễn ái Quốc cũng dành một phần tâm lực của mình cho “vấn đề tôn giáo”. Cũng từ năm 1921, Nguyễn Ái Quốc thu thập tƣ liệu để viết cuốn sách chuyên khảo nhất đời mình là Bản án chế độ thực dân Pháp, sau này đƣợc in ở Paris, 1925. Trong cuốn sách đó , chƣơng X có tên là Chủ nghĩa giáo hội, hoàn toàn đƣợc dành cho việc nghiên cứu vao trò của đạo Công giáo, đặc biệt là tầng lớp giáo sỹ (chủ yếu là giáo sỹ thuộc Hội Thừa sai Paris, Pháp).
Đó 11 Footer Page 13 of 107. Header Page 14 of 107. cũng là chƣơng sách “kinh điển” về mối quan hệ giữa chủ nghĩa thực dân và Giáo hội, khi nó bị lợi dụng trong những mƣu đồ chính trị thuộc địa. Cuối thế kỷ XIX phong trào yêu nƣớc Vệt Nam, tiêu biểu là phong trào Cần Vƣơng dƣới sự lãnh đạo của các sỹ phu yêu nƣớc chống thực dân Pháp đã phát triển rầm rộ trong cả nƣớc, kéo dài gần 20 năm.
Những phong trào vũ trang yêu nƣớc của nhân dân ta bị dập tắt trong biển máu. Trong khi dó tình hình tôn giáo Việt Nam cũng đang diễn ra phức tạp, mâu thuẫn giữa ngƣời có đạo và ngƣời không có đạo cũng ngày càng trở nên gay gắt. Trong khi đó các thế lực xâm lƣợc không ngừng lợi dụng vấn đề tôn giáo nhằm thực hiện mƣu đồ chính trị của mình. Chúng chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ những ngƣời có đạo và không có đạo, tuyên truyền chống phá cách mạng, chống lại cuộc đấu tranh chính nghĩa của dân tộc ta.
Từ bối cảnh lịch sử đó, nhận thấy đoàn kết là một sức mạnh cho sự thắng lợi của cách mạng bên cạnh các nhân tố khác, cách mạng Việt Nam buộc phải giải quyết vấn đề tôn giáo, nhằm đoàn kết toàn dân cùng tham gia kháng chiến, trong đó có vấn đề đạo Tin lành. Các tôn giáo đƣợc truyền vào Việt Nam qua nhiều con đƣờng khác nhau. Hai tôn giáo Công giáo và Tin lành đƣợc truyền vào Việt Nam là do các giáo sĩ, thừa sai ngƣời nƣớc ngoaì vào. Các hình thức truyền giáo của hai tôn giáo này đều gắn với liền với các thƣơng nhân ngƣời nƣớc ngoài.
Đạo Tin lành đƣợc truyền vào Việt Nam từ đầu thế kỷ XVII qua các mục sƣ tuyên úy hoặc các tín đồ là thƣơng nhân ngƣời Pháp, Hà Lan, Anh. Nhân vật quen biết đầu thế kỷ XIX là Jean Baptiste Chaigneau, một trong những cố vấn cho Gia Long ở Huế đồng thời cũng là tín đồ của đạo Tin lành. Bản thân Hồ Chí Minh trƣớc các vấn đề của dân tộc, ngƣời luôn có tƣ tƣởng về vấn đề dân tộc và tôn giáo, về độc lập dân tộc và quyền tự do tôn giáo. Từ những hiện thực cách mạng Ngƣời quyết định đi sang phƣơng Tây 12 Footer Page 14 of 107.
Header Page 15 of 107. để tìm hiểu nền văn minh Pháp… Nhờ có ý muốn ra nƣớc ngoài để tìm hiểu nƣớc Pháp về giúp dân, giúp nƣớc nhà, cứu lấy giống nòi …chính vì thế mà chƣa đầy 20 tuổi ngƣời thanh niên Nguyễn Tất Thành đã đánh giá đƣợc lập trƣờng yêu nƣớc của những ngƣời đƣơng thời, sau 30 năm bôn ba trên thế giới Ngƣời đã đi qua nhiều nƣớc Châu Á, Châu Âu, Châu Phi, Mỹ Latinh, tìm hiểu về cuộc sống của ngƣời dân các nƣớc , Ngƣời đã có cái nhìn toàn diện về ngƣời dân lao động: Nhân dân lao động ở đâu cũng là bạn và chủ nghĩa đế quốc ở đâu cũng là thù. Chính điều đó đã hình thành ở con ngƣời Hồ Chí Minh một tƣ tƣởng đoàn kết nhân dân lao động trong nƣớc cũng nhƣ quốc tế với một mong muốn tột cũng là đất nƣớc đƣợc độc lập, nhân dân đƣợc tự do khỏi xiềng xích nô lệ. Bên cạnh đó Chủ tich Hồ Chí Minh là ngƣời đã kế thừa một cách sáng tạo và linh hoạt quan điểm cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác- Lênin về vấn đề tôn giáo và thực tiễn cách mạng Việt Nam.
Hồ Chí Minh có hiểu biết sâu sắc về vấn đề tôn giáo cùng với tình hình phức tạp và nhạy cảm của nó. Ngƣời cho rằng hoạt động lợi dụng tôn giáo của các giai cấp thống trị để áp bức nhân dân để bảo vệ lợi ích của chúng là vấn đề mang tính phổ biến trong xã hội có giai cấp ở những thời điểm lịch sử khác nhau. Nhận thức rõ vấn đề kẻ địch lợi dụng tôn giáo để chống phá cách mạng nƣớc ta. Trên cơ sở vạch ra những hành vi lợi dụng tôn giáo của thực dân, đế quốc và các thế lực phản động với nhiều hình thức rất tinh vi khác nhau, ngƣời tìm hiểu về các tôn giáo, lý giải những nguyên nhân cơ bản của tình hình đó.
Đồng thời đề ra đƣờng lối chính sách và phƣơng pháp giải quyết vấn đề tôn giáo theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin đối với tất cả các tôn giáo trong đó có đạo Tin lành một tôn giáo vô cùng non trẻ ở Việt Nam. 13 Footer Page 15 of 107. Header Page 16 of 107. Việt Nam là dân tộc đa tôn giáo, tín ngƣỡng.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Nhà nƣớc ta luôn khẳng định chủ trƣơng, chính sách nhất quán là tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngƣỡng, tôn giáo của nhân dân. Các tôn giáo luôn đoàn kết, đồng hành cùng dân tộc, thực hiện phƣơng châm sống “tốt đời, đẹp đạo”. Sự thật là nhƣ vậy, song vẫn còn những ý kiến trái chiều, phản ánh sai lệch tình hình tôn giáo ở Việt Nam. Xâu chuỗi mọi vấn đề, có thể thấy rằng, trong lịch sử của dân tộc ta, việc lợi dụng vấn đề tín ngƣỡng, tôn giáo để phục vụ cho mƣu đồ xâm lƣợc hoặc gây mất ổn định đất nƣớc là việc làm không còn lạ lẫm gì.
Núp dƣới chiêu bài “tự do tôn giáo”, các thế lực thù địch cố tình phớt lờ những thành tựu của Việt Nam về công tác tôn giáo; tìm mọi cách gây hiềm khích, chia rẽ giữa các nhóm, hệ phái tôn giáo ở trong nƣớc; gây mâu thuẫn giữa những ngƣời có tín ngƣỡng, tôn giáo và không có tín ngƣỡng, tôn giáo, giữa đồng bào có đạo với Đảng, Nhà nƣớc, Quân đội và Công an. Ngoài ra, họ còn ra sức tài trợ hoạt động truyền đạo trái pháp luật nhằm gây ra các “điểm nóng” về chính trị - xã hội, tạo cớ để các thế lực phản động bên ngoài can thiệp vào công việc nội bộ, phá hoại chính sách đại đoàn kết dân tộc. Vì vậy nghiên cứu về tôn giáo cũng nhƣ vận dụng tƣ tƣởng của Hồ Chí Minh để giải quyết vấn đề tôn giáo là một việc làm vô cùng cần thiết và cấp bách luôn đƣợc Đảng và nhà nƣớc ta quan tâm và đƣa ra những phƣơng hƣớng giải quyết đúng đắn, khoa học và kịp thời. Thông qua việc nghiên cứu cũng giúp ta có đƣợc những nhận định chính xác, khoa học, để có cái nhìn đúng đắn trong bối cảnh các tôn giáo ở Việt Nam đang phát triển rất đa dạng và phức tạp, từ đó hạn chế những mặt không tích cực sao cho phù hợp với điều kiện phát triển của Việt Nam.
Tất cả những gì Hồ Chí Minh viết và nói và ứng xử với tôn giáo, chung quy lại là nhằm giác ngộ đại đa số đồng bào các tôn giáo và đoàn kết toàn dân 14 Footer Page 16 of 107. Header Page 17 of 107. thành sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Vì vậy có thể nói đoàn kết giữa các đồng bào theo các tôn giáo khác nhau , giữa đồng bào có đạo và những ngƣời không theo tôn giáo là một truyền thống quí báu của dân tộc ta.
Tƣ tƣởng đoàn kết lƣơng giáo, mối quan hệ của Hồ Chí Minh với các chức sắc tôn giáo và đồng bào có đạo là thể hiện sự tôn trọng con ngƣời và vấn đề tôn giáo để thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc. Việc thực hiện đúng đắn và sáng tạo tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về tôn giáo nói chung và đoàn kết lƣơng giáo nói riêng có ý nghĩa không chỉ cho hôm nay mà cho cả tƣơng lai, không những có ý nghĩa trong nƣớc mà còn có ý nghĩa trong nƣớc mà còn có ý nghĩa quốc tế. Bởi những tƣ tƣởng đó của Ngƣời chứa đựng sự ƣớc mong về một nền hòa bình, khoan dung và đầy tính nhân văn cao cả- những giá trị lớn mà nhân loại đang vƣơn tới. Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về tôn giáo Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về tín ngƣỡng, tôn giáo là sự vận dụng sáng tạo quan điểm mácxít về tín ngƣỡng, tôn giáo trong hoàn cảnh xã hội Việt Nam nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.