Tổng quan luận án
Đạo Tin Lành là một nhánh tôn giáo xuất hiện từ phong trào cải cách tôn giáo tại châu Âu vào thế kỷ XVI. So với các tôn giáo ngoại nhập khác tại Việt Nam, đạo Tin Lành có lịch sử du nhập muộn hơn (đầu thế kỷ XX thông qua Hội Truyền giáo Phúc âm Liên hiệp - CMA). Tại tỉnh Gia Lai, mặc dù không phải là địa bàn đạo Tin Lành đặt chân đến sớm nhất ở khu vực Tây Nguyên, nhưng đây lại là địa phương có tốc độ gia tăng tín đồ nhanh chóng, đặc biệt trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS). Tính đến tháng 10 năm 2016, toàn tỉnh Gia Lai đã ghi nhận sự hiện diện của 18 hệ phái Tin Lành với số lượng tín đồ lên tới trên 127.000 người, tạo nên những tác động sâu sắc đến đời sống tâm linh, văn hóa - xã hội và quản lý nhà nước tại địa phương.
Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu về đạo Tin Lành ở phạm vi cả nước hoặc khu vực Tây Nguyên dưới các lăng kính tôn giáo học, triết học hay an ninh - chính trị, song việc nghiên cứu toàn diện, có hệ thống quá trình phát triển của đạo Tin Lành tại riêng địa bàn tỉnh Gia Lai dưới góc độ khoa học lịch sử vẫn còn là một khoảng trống. Do đó, đề tài luận án tiến sĩ "Quá trình phát triển đạo Tin Lành ở tỉnh Gia Lai từ 1986 đến 2016" thuộc chuyên ngành Lịch sử Việt Nam đã được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống học thuật này.
Mục đích nghiên cứu của luận án là phân tích có hệ thống và toàn diện quá trình phát triển của đạo Tin Lành ở tỉnh Gia Lai giai đoạn 1986–2016; từ đó rút ra các đặc điểm, nguyên nhân phát triển và những ảnh hưởng của tôn giáo này đối với cộng đồng các dân tộc thiểu số tại địa phương; đồng thời cung cấp các cứ liệu lịch sử phục vụ công tác hoạch định và thực thi chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản:
- Trình bày các yếu tố tác động đến sự phát triển của đạo Tin Lành ở tỉnh Gia Lai.
- Phân tích và trình bày những biểu hiện của sự phát triển đạo Tin Lành ở tỉnh Gia Lai qua hai giai đoạn: 1986–2004 và 2005–2016.
- Rút ra đặc điểm, nguyên nhân phát triển và những ảnh hưởng của đạo Tin Lành đối với đời sống xã hội của đồng bào các dân tộc ở tỉnh Gia Lai.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là quá trình phát triển của đạo Tin Lành trên địa bàn tỉnh Gia Lai từ năm 1986 đến năm 2016.
Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể như sau:
- Phạm vi không gian: Địa giới hành chính tỉnh Gia Lai tính đến năm 2016 gồm 17 đơn vị hành chính cấp huyện (thành phố Pleiku, thị xã An Khê, thị xã Ayun Pa và 14 huyện: Chư Păh, Ia Grai, Chư Prông, Đức Cơ, Chư Sê, Mang Yang, Đăk Đoa, K'Bang, Kông Chro, Đăk Pơ, Ia Pa, Phú Thiện, Krông Pa, Chư Pưh). Luận án theo dõi sát các mốc điều chỉnh địa giới hành chính của tỉnh từ năm 1986 đến năm 2016.
| Năm |
Sự thay đổi đơn vị hành chính cấp huyện tại tỉnh Gia Lai |
Tổng số đơn vị |
| 1986 |
Gồm các đơn vị: Pleiku, Ayun Pa, Krông Pa, Chư Sê, K'Bang, Mang Yang, An Khê, Chư Prông, Chư Păh |
9 huyện, thị |
| 1988 |
Thành lập huyện Kông Chro từ một số vùng tách ra từ huyện An Khê |
10 huyện, thị |
| 1991 |
Chia tách tỉnh Gia Lai – Kon Tum thành hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum; thành lập huyện Đức Cơ từ một phần huyện Chư Păh và Chư Prông |
11 huyện, thị |
| 1996 |
Chia huyện Chư Păh thành hai huyện: Chư Păh và Ia Grai |
12 huyện, thị |
| 2000 |
Chia huyện Mang Yang thành hai huyện: Mang Yang và Đắk Đoa |
13 huyện, thị |
| 2002 |
Chia huyện Ayun Pa thành hai huyện: Ayun Pa và Ia Pa |
14 huyện, thị |
| 2003 |
Thành lập thị xã An Khê; thành lập huyện Đắk Pơ (đổi tên từ phần còn lại của huyện An Khê) |
15 huyện, thị |
| 2007 |
Thành lập thị xã Ayun Pa; phần huyện Ayun Pa cũ đổi tên thành huyện Phú Thiện |
16 huyện, thị |
| 2009 |
Chia huyện Chư Sê thành hai huyện: Chư Sê và Chư Pưh (ổn định đến năm 2016) |
17 huyện, thị |
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 1986–2016. Năm 1986 được chọn làm mốc bắt đầu vì sau giai đoạn bị ngừng hoạt động, đạo Tin Lành ở Gia Lai bắt đầu phục hồi và có sự gia tăng số lượng tín đồ (năm 1982 có 8.681 tín đồ, đến năm 1986 số tín đồ tăng lên khoảng 12.000 người). Mốc năm 2016 đánh dấu chặng đường 30 năm đổi mới của đất nước và địa phương. Mốc năm 2005 được dùng làm điểm phân kỳ giữa hai giai đoạn nghiên cứu (1986–2004 và 2005–2016) do gắn liền với sự ra đời của Chỉ thị số 01/2005/CT-TTg ngày 04-02-2005 của Thủ tướng Chính phủ "Về một số công tác đối với đạo Tin Lành". Ngoài ra, luận án mở rộng khảo sát giai đoạn lịch sử trước năm 1986 để làm rõ nguồn gốc du nhập.
- Phạm vi nội dung: Khảo cứu các nhân tố tác động, các biểu hiện phát triển (tín đồ, chức sắc, cơ sở thờ tự, tổ chức hệ phái, sinh hoạt đạo), đặc điểm, nguyên nhân và tác động của đạo Tin Lành đối với đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội tại Gia Lai.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu trong luận án được phân chia theo các nhóm nghiên cứu trong nước, nghiên cứu nước ngoài và các công trình chuyên biệt về tỉnh Gia Lai:
1. Các công trình nghiên cứu trong nước:
- Giai đoạn trước năm 1986: Số lượng công trình còn hạn chế, chủ yếu là khảo cứu và hồi ký của các mục sư, học giả theo đạo Tin Lành như: Phạm Xuân Tín với Tôn chỉ của Hội thánh Tin Lành Việt Nam (1957), Tìm hiểu Hội thánh Tin Lành Việt Nam (1957), Lịch sử Hội thánh Tin Lành Việt Nam (1962); Đỗ Hữu Nghiêm với luận văn Thạc sĩ Phương pháp truyền giáo của Tin Lành giáo tại Việt Nam (1968); Lê Văn Thái với hồi ký Bốn mươi sáu năm chức vụ (1971); Lê Hoàng Phu với luận án Tiến sĩ Thần học Lịch sử Hội thánh Tin Lành Việt Nam 1911-1965 (1972, xuất bản 1974, tái bản 2011). Các bài viết trên tạp chí Thánh Kinh báo, Hừng Đông, Tạp chí Truyền giáo, nghiên cứu của Trương Văn Tốt và R. Raimer (1971), các bài khảo cứu của Phạm Xuân Tín (1967, 1972) đã phản ánh bức tranh truyền giáo thời kỳ đầu.
- Giai đoạn sau năm 1986: Các công trình nghiên cứu phát triển phong phú hơn, tiêu biểu gồm có hồi ký của Phạm Xuân Tín (Tìm gặp Đấng Chân Thần - 1990, tự truyện Hạt giống - The seen - 2012); Phạm Văn Năm (Dâng trọn cuộc đời - hồi ký 55 năm phục vụ Chúa - 1995); Đỗ Hữu Nghiêm (Đạo Tin Lành du nhập vùng Nam Trường Sơn – Tây Nguyên - 1995). Hệ thống công trình của Nguyễn Thanh Xuân gồm Một số tôn giáo lớn ở Việt Nam (1992), Bước đầu tìm hiểu đạo Tin Lành trên thế giới và ở Việt Nam (2002), Đạo Tin Lành ở Việt Nam (2006) cùng nhiều bài báo chuyên ngành (2005–2007). Nhóm nghiên cứu lý luận và thực tiễn tôn giáo gồm có: Nguyễn Đức Lữ (Những đặc điểm cơ bản của một số tôn giáo lớn ở Việt Nam - 2005); Đặng Nghiêm Vạn với đề tài cấp Bộ (2001) và sách Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam (2007); Lại Đức Hạnh với đề tài cấp Bộ về an ninh trật tự (2001); Nguyễn Văn Nam với đề tài cấp Bộ (2003) và bài viết về thiết chế xã hội (2008); Hồ Tấn Sáng (2008); Ngô Văn Minh với đề tài cấp Bộ (2009) và các bài viết về phương pháp truyền giáo (2011), chính sách tôn giáo (2016); Đỗ Quang Hưng (2011); Đoàn Triệu Long (Đạo Tin Lành ở miền Trung – Tây Nguyên - 2013); công trình của Thái Phước Trường (2011) nhân 100 năm Tin Lành truyền đến Việt Nam; luận án Tiến sĩ của Nguyễn Xuân Hùng (2017) về quá trình truyền giáo giai đoạn 1911–1975. Ngoài ra, có các luận văn, luận án của Hà Xuân Nguyên (2001 - Kon Tum), Bùi Minh Hải (2007 - Đắk Lắk), Nguyễn Văn Lai (2012), Lê Hồng Phong (2014), Nguyễn Thị Ngà (2016).
2. Các công trình nghiên cứu của tác giả nước ngoài:
- E. Irwin (1937) với tác phẩm With Christ in Indo - China ghi chép giai đoạn 1911–1935;
- G. Smith với chuỗi ấn phẩm khảo cứu dân tộc học và truyền giáo tại Tây Nguyên: The Blood Hunters (1942), Gongs in the Night (1943), Missionary and Anthropology (1945), Victory in Vietnam (1965);
- Max Weber với công trình lý luận kinh điển Die protestantische ethik und der Geist des Kapitalismus (Bùi Văn Nam Sơn dịch);
- Jean Baubérot (2006) với Lịch sử đạo Tin Lành;
- Các luận án tiến sĩ tại Hoa Kỳ của Crump (2010) và Tu Thien Van Truong (2009).
3. Các công trình nghiên cứu trực tiếp về đạo Tin Lành tại tỉnh Gia Lai:
- Trần Xuân Thu (1995) với đề tài khoa học cấp Bộ về nguyên nhân, điều kiện phục hồi đạo Tin Lành trong đồng bào Gia-rai, Ba-na giai đoạn 1989–1994;
- Đoàn Triệu Long (2004) với luận văn Thạc sĩ về hoạt động truyền đạo trái phép tại Gia Lai và bài viết năm 2014 về tác động đến tín ngưỡng truyền thống;
- Nguyễn Thái Bình (2010) với luận án Tiến sĩ Triết học về thực hiện chính sách tôn giáo đối với đạo Tin Lành ở Gia Lai;
- Ngô Văn Minh (2014) với đề tài cấp cơ sở về hoạt động đạo Tin Lành sau đăng ký điểm nhóm và bài viết năm 2016 đánh giá 10 năm thực hiện Chỉ thị 01 tại Gia Lai;
- Thùy Liên với các bài viết năm 2007 và 2013 trên Tạp chí Công tác tôn giáo.
Khoảng trống nghiên cứu: Các công trình đi trước phần lớn tiếp cận ở tầm vĩ mô toàn quốc, tập trung vào góc độ triết học, tôn giáo học, an ninh trật tự hoặc công tác quản lý nhà nước; một số đề tài viết về Gia Lai bị giới hạn về khung thời gian (dừng lại ở năm 1994, 2004 hoặc 2014). Đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống và chuyên biệt về toàn bộ tiến trình lịch sử phát triển của đạo Tin Lành tại tỉnh Gia Lai xuyên suốt 30 năm đổi mới (1986–2016) dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở phương pháp luận: Luận án được thực hiện dựa trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử theo học thuyết Mác – Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo; các quan điểm, đường lối, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo và công tác tôn giáo trong thời kỳ đổi mới.
- Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp nghiên cứu chuyên ngành sử học kết hợp liên ngành với tôn giáo học. Hai phương pháp chủ đạo được áp dụng xuyên suốt là phương pháp lịch sử và phương pháp logic, cùng với sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa hai phương pháp này nhằm dựng lại tiến trình vận động cụ thể của sự kiện trong mối liên hệ bản chất. Bên cạnh đó, luận án vận dụng các phương pháp bổ trợ gồm: phương pháp thống kê, phương pháp điền dã thực địa, phương pháp sưu tầm, so sánh, đối chiếu, phân tích - tổng hợp tư liệu và phương pháp phỏng vấn nhân chứng lịch sử.
- Nguồn tài liệu/dữ liệu:
- Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam và các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước liên quan đến công tác tôn giáo và đạo Tin Lành (Nghị quyết 24-NQ/TW năm 1990, Nghị quyết 25-NQ/TW năm 2003, Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004, Chỉ thị 01/2005/CT-TTg, các Thông báo 184-TB/TW, 255-TB/TW, 160-TB/TW, Quyết định 11/QĐ-TTg...).
- Tài liệu lưu trữ hành chính và chuyên môn tại các cơ quan: Ban Tôn giáo Chính phủ, Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, Tỉnh ủy Gia Lai, UBND tỉnh Gia Lai, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Gia Lai, Ban Tôn giáo tỉnh Gia Lai, Công an tỉnh Gia Lai, Thư viện Quốc gia Việt Nam, Thư viện tỉnh Gia Lai.
- Tài liệu từ Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam) và các Chi hội Tin Lành trực thuộc trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
- Các công trình chuyên khảo, kỷ yếu hội thảo khoa học, bài báo tạp chí chuyên ngành đã công bố của các học giả trong nước và quốc tế.
- Nguồn hồi ký, tự truyện của các mục sư, truyền đạo và tín đồ Tin Lành.
- Nguồn tư liệu khảo sát, điền dã thực tế tại các buôn làng trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
- Nguồn dữ liệu phỏng vấn trực tiếp các nhân chứng lịch sử, chức sắc, chức việc và cán bộ phụ trách công tác tôn giáo.
Nội dung chính theo từng chương
Luận án có dung lượng gồm phần Mở đầu (5 trang), Kết luận (3 trang), Danh mục tài liệu tham khảo (15 trang), Phụ lục và 4 chương nội dung chính:
Chương 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương này tập trung phân tích, đánh giá toàn diện lịch sử nghiên cứu vấn đề ở trong và ngoài nước; phân loại thành các nhóm công trình nghiên cứu về đạo Tin Lành tại Việt Nam (giai đoạn trước và sau năm 1986), các công trình của học giả quốc tế, và nhóm các công trình trực tiếp khảo cứu địa bàn tỉnh Gia Lai. Tác giả chỉ ra những thành tựu tư liệu quý báu mà các học giả tiền bối đã đạt được, đồng thời làm rõ những nội dung mà các nghiên cứu trước chưa đề cập sâu hoặc chưa mang tính hệ thống dưới góc độ sử học. Từ đó, luận án xác định rõ 3 nội dung trọng tâm cần giải quyết: làm rõ các nhân tố tác động đến quá trình phát triển đạo Tin Lành tại Gia Lai; trình bày các biểu hiện phát triển cụ thể qua hai giai đoạn lịch sử (1986–2004 và 2005–2016); phân tích sâu sắc các đặc điểm, nguyên nhân và tác động nhiều mặt của đạo Tin Lành đối với đời sống cộng đồng dân tộc thiểu số tại địa phương.
Chương 2. Quá trình phát triển đạo Tin Lành ở tỉnh Gia Lai từ 1986 đến 2004
Chương 2 trình bày có hệ thống về nguồn gốc lịch sử, giáo lý và bối cảnh tự nhiên, xã hội tác động đến quá trình phát triển đạo Tin Lành ở Gia Lai trước năm 2004.
- Về nguồn gốc và giáo lý: Đạo Tin Lành tách ra từ Công giáo vào thế kỷ XVI gắn với cuộc cải cách của Martin Luther (năm 1517 công bố 95 luận đề tại Đức) và Jean Calvin (tại Thụy Sĩ). Luận án phân tích sự khác biệt về giáo lý, nghi lễ giữa Tin Lành và Công giáo:
| Tiêu chí |
Đạo Công giáo |
Đạo Tin Lành |
| Nền tảng giáo lý |
Kinh Thánh kết hợp với các Nghị quyết Công đồng và Quyết định của Giáo hoàng |
Duy nhất Kinh Thánh (Cựu ước và Tân ước) là chuẩn mực căn bản cho đức tin |
| Quyền giảng giải |
Chỉ hàng giáo sĩ mới có quyền nghiên cứu và giảng giải Kinh Thánh |
Mọi tín đồ và chức sắc đều bình đẳng trong việc đọc, hiểu và làm theo Kinh Thánh |
| Quan niệm về Đức Mẹ Maria |
Tôn sùng, thờ lạy như Mẹ Thiên Chúa; tin bà đồng trinh trọn đời |
Chỉ kính trọng, không thờ lạy; tin bà chỉ hoài thai mầu nhiệm và sinh thêm con sau Chúa Jesus |
| Quan niệm về các Thánh và Tranh tượng |
Tôn sùng các Thánh, hành hương thánh địa; thờ phụng tranh ảnh, tượng thờ |
Chỉ kính trọng tấm gương các Thánh; cấm thờ lạy tranh ảnh, hình tượng (xem là do tay người làm ra) |
| Thế giới sau cái chết |
Tin có Thiên đàng, Địa ngục và Luyện ngục (nơi thanh tẩy linh hồn mắc tội nhẹ) |
Tin có Thiên đàng và Địa ngục; không công nhận sự tồn tại của Luyện ngục |
| Nghi thức và sự cứu rỗi |
Chú trọng các hình thức luật lệ, bí tích, nghi lễ phụng vụ chặt chẽ |
Đề cao đức tin nội tâm ("sự cứu rỗi chỉ đến bởi đức tin"), nghi thức giản lược |
- Về tiến trình truyền giáo vào Việt Nam và Tây Nguyên: Hội Truyền giáo Phúc âm Liên hiệp (CMA) do A.B. Simpson sáng lập đã thiết lập cơ sở đầu tiên tại Đà Nẵng năm 1911. Năm 1927, Đại Hội đồng lần IV lập ra Hội Tin Lành Đông Pháp (từ 1945 đổi tên thành Hội thánh Tin Lành Việt Nam). Năm 1954, giáo hội phân chia thành hai tổ chức hoạt động độc lập ở hai miền Nam - Bắc. Tại Tây Nguyên, công cuộc truyền đạo được đẩy mạnh từ năm 1926–1930; thành lập các trường Kinh thánh tại Buôn Mê Thuột, Đà Lạt (1947–1949) và thành lập địa hạt Thượng du (1951). Sau năm 1975, do một số chức sắc, tín đồ dính líu đến tổ chức phản động FULRO chống phá chính quyền, các hoạt động của đạo Tin Lành tại Gia Lai bị chính quyền cho ngừng hoạt động. Mặc dù vậy, đạo Tin Lành vẫn tiếp tục các sinh hoạt âm thầm và bắt đầu phục hồi từ năm 1986.
- Về điều kiện tự nhiên, dân cư và văn hóa Gia Lai: Theo số liệu điều tra dân số năm 2009, tỉnh Gia Lai có 38 nhóm dân tộc, trong đó người Kinh chiếm 56%, người Gia-rai chiếm 29,1%, người Ba-na chiếm 11,8% (3 nhóm này chiếm 97% dân số toàn tỉnh); các nhóm dân tộc thiểu số di cư phía Bắc chiếm khoảng 2,7%. Người Gia-rai tập trung chủ yếu ở các huyện phía nam và phía đông (chiếm 85% dân số Gia-rai toàn tỉnh), trong khi 80% người Ba-na sinh sống tại các huyện đông bắc (Kông Chro 66,9%, Mang Yang 57,8%, Đắk Đoa 36,6%, K'Bang 32,3%). Đời sống kinh tế nương rẫy, trình độ học vấn thấp, cùng quan niệm tín ngưỡng đa thần nguyên thủy ("vạn vật hữu linh", thờ cúng Yang, lễ bỏ mả) và thiết chế làng buôn truyền thống chi phối bởi già làng, luật tục đã tạo môi trường xã hội đặc thù cho sự phát triển của đạo Tin Lành.
| Thành phần dân tộc tại tỉnh Gia Lai (Năm 2009) |
Tỷ lệ dân số (%) |
Địa bàn cư trú tập trung chủ yếu |
| Người Kinh |
56,0% |
Các đô thị, trung tâm huyện, dọc các trục quốc lộ |
| Người Gia-rai |
29,1% |
Các huyện phía Nam và Đông: Krông Pa (68,2%), Ia Pa, Phú Thiện, Ayun Pa, Chư Sê, Chư Prông, Chư Păh, Ia Grai, Đức Cơ |
| Người Ba-na |
11,8% |
Các huyện Đông Bắc: Kông Chro (66,9%), Mang Yang (57,8%), Đắk Đoa (36,6%), K'Bang (32,3%) |
| Các DTTS di cư phía Bắc (Thái, Tày, Nùng, Dao, Mông...) |
2,7% |
Định cư tập trung tại 3 huyện: Chư Prông (13,2%), Phú Thiện (8,9%), K'Bang (7,5%) |
| Các dân tộc khác |
~0,4% |
Rải rác trên địa bàn tỉnh |
- Về chủ trương, chính sách: Giai đoạn 1986–2004, Đảng và Nhà nước có bước chuyển biến tư duy quan trọng với Nghị quyết số 24-NQ/TW (1990), khẳng định tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân và còn tồn tại lâu dài; tiếp đó là Nghị quyết số 25-NQ/TW (2003) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX và Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo (2004). Đối với đạo Tin Lành, các văn bản như Thông báo số 184-TB/TW (1998), Thông báo số 255-TB/TW (1999), Quyết định số 11/QĐ-TTg (2000), Thông báo số 160-TB/TW (2004) đã định hình nguyên tắc: không khuyến khích nhưng không cấm đoán, tạo điều kiện cho các sinh hoạt tôn giáo thuần túy, phân biệt tôn giáo thuần túy với các hoạt động lợi dụng tôn giáo như tổ chức phản động "Tin Lành Đê Ga".
Chương 3. Quá trình phát triển đạo Tin Lành ở tỉnh Gia Lai từ 2005 đến 2016
Chương này phân tích quá trình phát triển của đạo Tin Lành tại Gia Lai gắn liền với việc triển khai Chỉ thị số 01/2005/CT-TTg ngày 04-02-2005 của Thủ tướng Chính phủ "Về một số công tác đối với đạo Tin Lành". Đây là văn bản pháp lý mang tính bước ngoặt, cho phép hướng dẫn và đăng ký sinh hoạt tôn giáo theo điểm nhóm cho các hệ phái và tín đồ chưa có nơi thờ tự hợp pháp.
- Sự phát triển về số lượng tín đồ, chức sắc và điểm nhóm: Sau khi thực hiện chủ trương đăng ký điểm nhóm, hoạt động tôn giáo của đồng bào Tin Lành từng bước đi vào nền nếp, hợp pháp. Số lượng tín đồ gia tăng nhanh chóng, đến tháng 10 năm 2016 đạt trên 127.000 tín đồ với 18 hệ phái khác nhau. Bộ máy chức sắc, chức việc được đào tạo và công nhận; cơ sở vật chất, nhà nguyện, điểm nhóm được tu bổ, xây dựng đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của quần chúng có đạo.
- Công tác quản lý nhà nước và ổn định an ninh chính trị: Chính quyền địa phương triển khai đồng bộ các chính sách dân tộc, tôn giáo, tạo sự chuyển biến căn bản trong nhận thức của chức sắc và tín đồ; đấu tranh loại trừ sự thao túng, kích động của các phần tử phản động FULRO và tà đạo "Tin Lành Đê Ga", giữ vững khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Chương 4. Một số nhận xét về quá trình phát triển đạo Tin Lành ở tỉnh Gia Lai từ 1986 đến 2016
Chương 4 tổng kết các vấn đề có tính quy luật lịch sử:
- Đặc điểm phát triển: Phát triển nhanh chóng và tập trung chủ yếu trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ (Gia-rai, Ba-na); có sự đan xen phức tạp giữa nhu cầu tâm linh thuần túy với các yếu tố chính trị - xã hội; quá trình phát triển diễn ra song song giữa sự gia tăng số lượng tín đồ với sự phân hóa đa dạng về hệ phái.
- Nguyên nhân phát triển: Sự biến đổi sâu sắc về kinh tế - xã hội, sự mai một của các thiết chế văn hóa truyền thống tạo khoảng trống tâm lý; bản thân giáo lý, lối sống Tin Lành có tính chất bình đẳng, giản tiện, bài trừ các hủ tục tốn kém (như tục hiến tế súc vật, kiêng cữ nặng nề); sự chủ động truyền giảng của các hệ phái; sự đổi mới đúng đắn, cởi mở trong đường lối, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước.
- Những ảnh hưởng đối với đời sống xã hội: Luận án chỉ rõ ảnh hưởng hai mặt. Về mặt tích cực: hình thành nếp sống văn minh, hạn chế tệ nạn xã hội (nghiện rượu, mê tín dị đoan), bài trừ các phong tục tập quán lạc hậu, thúc đẩy tương trợ lao động sản xuất. Về mặt tiêu cực và phức tạp: làm rạn nứt cấu trúc văn hóa làng buôn cổ truyền, xung đột với tín ngưỡng đa thần truyền thống, gây nguy cơ xói mòn một số di sản văn hóa phi vật thể bản địa; đồng thời luôn tiềm ẩn nguy cơ bị các thế lực thù địch lợi dụng nhằm chia rẽ dân tộc.
Kết quả và những đóng góp mới
- Về mặt khoa học: Luận án là công trình nghiên cứu chuyên biệt, có hệ thống và toàn diện đầu tiên dưới góc độ Lịch sử Việt Nam về quá trình phát triển của đạo Tin Lành tại tỉnh Gia Lai xuyên suốt 30 năm (1986–2016). Công trình đã phục dựng bức tranh toàn cảnh về sự hình thành, phục hồi, biến đổi về quy mô tổ chức, tín đồ, chức sắc và phương thức sinh hoạt của đạo Tin Lành; từ đó khái quát những đặc điểm mang tính quy luật, lý giải các nguyên nhân phát triển và đánh giá khách quan những tác động nhiều chiều của hiện tượng tôn giáo này đối với cộng đồng các dân tộc thiểu số tại địa phương.
- Về mặt thực tiễn: Luận án cung cấp hệ thống tư liệu lịch sử xác thực, có giá trị khoa học cho việc nghiên cứu, giảng dạy lịch sử Việt Nam hiện đại, lịch sử tôn giáo và dân tộc học tại các trường đại học, viện nghiên cứu. Đồng thời, các kết quả nghiên cứu đóng góp những căn cứ lịch sử và thực tiễn tin cậy phục vụ các cơ quan Đảng, Nhà nước trong việc tham mưu, hoạch định và hoàn thiện chính sách tôn giáo, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước đối với đạo Tin Lành tại địa bàn chiến lược Gia Lai và toàn vùng Tây Nguyên.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu trong khung thời gian từ năm 1986 đến năm 2016 trên phạm vi địa giới hành chính tỉnh Gia Lai. Do đạo Tin Lành tại địa phương có nhiều hệ phái nhỏ chưa được công nhận tư cách pháp nhân và tính chất biến động phức tạp của các điểm nhóm sinh hoạt gia đình, việc tiếp cận nguồn dữ liệu thống kê tuyệt đối của một số hệ phái ngoài Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam) ở giai đoạn đầu đổi mới còn gặp khó khăn nhất định.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cập nhật quá trình vận động của đạo Tin Lành ở tỉnh Gia Lai sau năm 2016 khi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 chính thức có hiệu lực thi hành; thực hiện các nghiên cứu so sánh liên tỉnh giữa Gia Lai với các địa bàn trọng điểm khác ở Tây Nguyên (như Đắk Lắk, Lâm Đồng, Kon Tum, Đắk Nông) hoặc khu vực miền núi phía Bắc.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao đối với:
- Các nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Tôn giáo học, Dân tộc học, Văn hóa học và Triết học.
- Cán bộ làm công tác lãnh đạo, quản lý, cán bộ chuyên trách công tác tôn giáo, dân tộc thuộc Ban Tôn giáo, Ban Dân vận, Mặt trận Tổ quốc và lực lượng an ninh các cấp.
- Phần có giá trị tham khảo sâu sắc nhất là Chương 2 và Chương 3 với hệ thống tư liệu lịch sử chi tiết về quá trình phục hồi, sự biến động địa giới hành chính, các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, cùng việc triển khai đăng ký sinh hoạt tôn giáo theo điểm nhóm tại cơ sở.
Câu hỏi thường gặp
1. Đạo Tin Lành du nhập vào Việt Nam và tỉnh Gia Lai từ thời điểm nào, do tổ chức nào truyền bá?
Đạo Tin Lành bắt đầu được truyền bá vào Việt Nam bởi các giáo sĩ thuộc Hội Truyền giáo Phúc âm Liên hiệp (CMA) do A.B. Simpson sáng lập, xây dựng cơ sở đầu tiên tại Đà Nẵng vào năm 1911. Đối với vùng Tây Nguyên và tỉnh Gia Lai, tổ chức CMA và Hội thánh Tin Lành Việt Nam bắt đầu triển khai kế hoạch truyền đạo lên vùng đồng bào dân tộc thiểu số từ những năm 1926–1930.
2. Địa giới hành chính tỉnh Gia Lai đã có những lần điều chỉnh nào trong giai đoạn 1986–2016?
Năm 1986, tỉnh gồm 9 huyện, thị. Qua các lần chia tách và thành lập mới vào các năm 1988 (thành lập huyện Kông Chro), 1991 (tách tỉnh Gia Lai - Kon Tum, lập huyện Đức Cơ), 1996 (lập huyện Ia Grai), 2000 (lập huyện Đắk Đoa), 2002 (lập huyện Ia Pa), 2003 (lập thị xã An Khê, huyện Đắk Pơ), 2007 (lập thị xã Ayun Pa, huyện Phú Thiện), và 2009 (lập huyện Chư Pưh), đến năm 2016 tỉnh Gia Lai có 17 đơn vị hành chính cấp huyện gồm 1 thành phố, 2 thị xã và 14 huyện.
3. Vì sao luận án chọn năm 2005 làm mốc phân kỳ giữa Chương 2 và Chương 3?
Ngày 04-02-2005, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 01/2005/CT-TTg "Về một số công tác đối với đạo Tin Lành". Chỉ thị này đã mở ra bước ngoặt mới, tạo hành lang pháp lý cho việc đăng ký sinh hoạt tôn giáo theo điểm nhóm tại buôn làng, đưa hoạt động của đạo Tin Lành ở Gia Lai và Tây Nguyên sang một sắc thái hoàn toàn mới, chuyển từ trạng thái bị tạm ngừng hoạt động hoặc hoạt động tự phát sang hoạt động công khai, hợp pháp theo pháp luật.
4. Cơ cấu thành phần dân tộc tại tỉnh Gia Lai có đặc điểm gì nổi bật?
Theo số liệu điều tra dân số năm 2009, Gia Lai có 38 nhóm dân tộc nhưng chỉ 3 nhóm đã chiếm tới 97% dân số toàn tỉnh (người Kinh chiếm 56%, người Gia-rai chiếm 29,1%, người Ba-na chiếm 11,8%). Người Gia-rai tập trung chủ yếu ở các huyện phía nam và phía đông (chiếm 85% dân số Gia-rai toàn tỉnh), người Ba-na tập trung ở các huyện đông bắc (chiếm 80% dân số Ba-na toàn tỉnh), và nhóm dân tộc thiểu số di cư phía Bắc chiếm khoảng 2,7%.
5. Luận án sử dụng những phương pháp nghiên cứu chính nào?
Luận án vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic làm chủ đạo, kết hợp với các phương pháp liên ngành và hỗ trợ như: phương pháp thống kê, điền dã thực địa, sưu tầm, so sánh, đối chiếu, phân tích văn bản và phỏng vấn nhân chứng lịch sử.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Quá trình phát triển đạo Tin Lành ở tỉnh Gia Lai từ 1986 đến 2016" của tác giả là một công trình nghiên cứu khoa học lịch sử nghiêm túc, công phu và có hệ thống. Bằng việc xử lý nguồn tư liệu đa dạng từ văn khố, tài liệu lưu trữ chính quyền, hồ sơ giáo hội và điền dã thực địa, luận án đã làm sáng tỏ tiến trình 30 năm vận động của đạo Tin Lành trên địa bàn chiến lược Gia Lai qua hai giai đoạn bản lề (1986–2004 và 2005–2016). Công trình không chỉ đóng góp quan trọng vào việc bổ khuyết bức tranh lịch sử tôn giáo Việt Nam thời kỳ đổi mới mà còn cung cấp những cứ liệu thực tiễn quý báu phục vụ công tác quản lý nhà nước và xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc tại khu vực Tây Nguyên.