Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ CAO ĐÀI TÂY NINH 1. Khái niệm * Nhập thế (Engagement): có nguồn gốc từ động từ engage có ý nghĩa là: hứa hẹn, ước hẹn, cam kết, ràng buộc, hứa hôn, làm, tiến hành [76]. Tiếng Anh thời trung cổ engagen có nghĩa là: cầm cố một cái gì đó để bảo đảm rằng sẽ hoàn trả một món nợ [72]. Thuật ngữ “Engagement” được Thiền sư Thích Nhất Hạnh sử dụng trong tác phẩm “Đạo Phật đi vào cuộc đời” năm 1964, do nhà xuất bản Lá Bối phát hành được hiểu là sự dấn thân vào cuộc đời của người phật tử nên gọi là nhập thế.
Nhập thế trong Phật giáo hướng cho người Phật tử thay đổi quan điểm về vấn đề đạo đức và giải thoát. Khái niệm Phật giáo nhập thế được dùng để chỉ cho sự dấn thân của người Phật tử trong các sinh hoạt xã hội như các hoạt động thiện nguyện cho đến những vấn đề mang tính phổ quát như công lý xã hội, bình quyền giới tính, vấn đề ý thức hệ, ô nhiễm môi sinh, hòa bình thế giới, v.v…[75] Trong Công giáo, thuật ngữ “Engagement” cũng được dịch là "dấn thân", "nhập thế", do E. Mounier đưa ra đã trở nên một trong những từ chủ yếu của Công giáo tại Pháp từ những năm 1936-1950, nói lên hành động của người Kitô hữu bước vào đời sống dân sự, chính trị, chức nghiệp và các quan hệ nhân bản với tất cả niềm tin tôn giáo của mình.[72] Theo từ điển Tiếng Việt “nhập thế” là dựa vào cuộc đời (thường là ra làm quan), gánh vác việc đời, không đi ở ẩn, theo quan niệm của Nho giáo. Theo Cao Đài từ điển (tài liệu trên internet), Nhập: Vào, đi vào, đem vào; Thế: đời.
Nhập thế là vào đời, bước vào cuộc đời, tức là đi ra gánh vác việc đời, tham gia vào các mặt hoạt động của xã hội. Trái ngược với nhập thế là xuất thế; là bước ra khỏi cuộc đời, không tiếp tục tham gia vào các hoạt động xã hội, tìm nơi vắng vẻ để tu hành, ẩn thân luyện đạo. 12 Trong giáo lý Cao Đài, nhập thế là “hành” (những việc làm thấy rõ và có thể ghi nhận được), xuất thế là “tàng” (những việc không thấy rõ, còn ẩn kín). Trong đề tài này, nhập thế được hiểu là sự tham gia tích cực của tôn giáo vào trong đời sống xã hội thông qua những việc làm đưa đạo vào đời của Hội thánh, các chức sắc, tín đồ và từ đó những giá trị của tôn giáo có những tác động, ảnh hưởng đến đời sống của các tín đồ và xã hội.
* Thế tục hóa (Secularization): có nguồn gốc từ chữ secular với ý nghĩa là: trăm năm một lần, trường kỳ, già, cổ, thế tục, thuộc thế giới trần tục, không thiêng liêng. Từ secularize có ý nghĩa là thế tục hóa, trần tục hóa.[76] Từ lâu, khái niệm “thế tục hóa” đã được không ít nhà nghiên cứu đề cập như một trào lưu tư tưởng, có tác động và ảnh hưởng đến nhiều mặt đời sống của những người tu hành. Nhất là trong thời gian gần đây, vấn đề thế tục hóa nổi lên bởi có nhiều hoạt động xã hội của các tôn giáo gắn liền với nhiều tranh luận liên quan đến các học thuyết xã hội học về tôn giáo, kinh tế học về tôn giáo… Theo Từ điển Tiếng Việt “thế tục” là tập tục ở đời; là đời sống trần tục, đối lập với đời sống tu hành theo quan điểm của tôn giáo [64: tr. Ở đây, thế tục được hiểu theo nghĩa đời sống trần tục.
Như vậy, thế tục hóa có thể hiểu với nghĩa tương tự như là nhập thế, chính là việc đưa tôn giáo vào đời sống thường ngày, thật sự thể hiện tinh thần gắn bó với cuộc sống con người. Theo Cao Đài từ điển (tài liệu trên internet), Thế: Đời, cuộc đời, cõi trần; Tục: tầm thường, chỉ cõi trần; Hóa: biến đổi Thế tục hóa là sự biến đổi những điều linh thiêng trong tôn giáo thành những việc tầm thường mang dáng vẻ cõi trần tục của con người làm suy giảm niềm tin của các tín đồ và có tội với thiêng liêng. Trong đề tài này, thế tục hóa được hiểu khác với nhập thế. Thế tục hóa là việc tôn giáo hòa nhập vào trong cuộc sống nhưng dễ mất đi tính thiêng vốn có của tôn giáo.
Nhập thế là việc tôn giáo tham gia vào công việc của cuộc sống xã hội nhưng với mục đích cuối cùng là để khẳng định tính thiêng của tôn giáo, hướng con người trở về tính thiêng. Quan điểm tiếp cận Tôn giáo dù được xem xét ở phương diện nào đi nữa đều có mối quan hệ mật thiết với văn hóa và có ảnh hưởng đến các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Tôn giáo là sản phẩm cụ thể của nhân loại, được xem như là niềm tin và các dạng hành vi mà con người sử dụng để cố gắng giải quyết những khó khăn trong cuộc sống [22: tr. Vì vậy, chúng tôi nghiên cứu đề tài này dưới quan điểm xem xét tôn giáo trong bối cảnh văn hóa xã hội theo 2 hướng: - Thứ nhất là tiếp cận từ góc độ cá nhân, chúng tôi nghiên cứu hành vi của các tín đồ Cao Đài Tây Ninh trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, việc thực hiện các nghi lễ biểu hiện đức tin theo giáo lý của đạo, đặc biệt là việc tham gia vào các hoạt động công quả cho đạo, cứu trợ, từ thiện xã hội.
Từ đó sẽ giúp cho chúng tôi hiểu sâu hơn về vai trò giáo lý tôn giáo trong đời sống của người tín đồ, lý giải được nguyên nhân khiến cho họ tích cực lập công quả, sống nhập thế. - Thứ hai là tiếp cận từ góc độ cộng đồng, chúng tôi nghiên cứu tính cộng đồng của các tín đồ Cao Đài Tây Ninh trong các sinh hoạt tôn giáo của các tổ chức tôn giáo, các hoạt động thường xuyên của các Họ đạo cơ sở, các tổ chức của Hội thánh Cao Đài Tây Ninh. Điều này sẽ giúp cho chúng tôi tìm hiểu sức mạnh liên kết cộng đồng trong tôn giáo này và giải thích được mối tương quan giữa tín đồ với tổ chức giáo hội, với cộng đồng tôn giáo. Đồng thời, góp phần ghi nhận những đóng góp tích cực của các tổ chức này cho xã hội thông qua các hoạt động nhập thế.
Lý thuyết nghiên cứu Từ quan điểm tiếp cận và mục tiêu nghiên cứu trên, chúng tôi chọn các lý thuyết sau để làm cơ sở nền tảng cho việc phân tích dữ liệu. * Lý thuyết chức năng của B. Malinowski Thuyết chức năng ra đời một thời gian ngắn sau khi New Guinae, đông và tây Phi trở thành thuộc địa của Anh và các nước Châu Âu. Việc nghiên cứu của trường phái chức năng được thực hiện ở các dân tộc thuộc địa.
Nói đến trường phái chức năng, người ta thường nhắc đến hai nhân vật lớn đó là Bronislaw Malinowski 14 và Arthur Reginald Radcliffe Brown. Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng lý thuyết chức năng của B. Bronislaw Malinowski (1884-1942) là một nhà nhân học sinh ra ở Ba Lan. Trong quá trình điền dã lâu dài (1914-1920) ở quần đảo Trobriands phía đông New Guinae đã giúp ông trở thành nhà nhân học nổi tiếng.
Malinowski quan niệm văn hoá được xây dựng trên những nhu cầu sinh học của cá nhân, là điểm quy chiếu từ đó có thể rút ra những điểm tương đồng giữa các xã hội đơn giản và phức tạp. Từ ngữ Chức năng ở đây được dùng theo nghĩa thứ hai, đó là thoã mãn những nhu cầu sinh học chủ yếu (của cá nhân) thông qua những phương tiện văn hoá [68: tr. Theo Malinowski, bất kỳ văn hoá nào trong tiến trình phát triển của nó đều tạo ra một hệ thống cân bằng, ổn định, trong đó mỗi bộ phận của chỉnh thể đều thực hiện chức năng của nó [22: tr. Ông còn cho rằng “giải thích các tập tục hoàn toàn thông qua chức năng hiện có của chúng sẽ làm cho việc kiểm chứng được dễ dàng hơn vì thế khoa học hơn” [68: tr.
Vận dụng lý thuyết này, chúng tôi sẽ chú trọng giải thích những ý nghĩa và chức năng của tôn giáo trong đời sống của các tín đồ, và xem tôn giáo như một nhu cầu trong đời sống hàng ngày của tín đồ. * Lý thuyết về sự lựa chọn duy lý Một số nhà triết học đã cho rằng bản chất con người là tư lợi, luôn mong muốn được thoả mãn những nhu cầu thiết yếu và lãng tránh nỗi khổ đau. Một số nhà kinh tế học cổ điển nhấn mạnh vai trò động lực cơ bản của động cơ kinh tế, lợi nhuận khi con người phải đưa ra quyết định lựa chọn hành động. Lý thuyết về sự lựa chọn duy lý được biết đến với tên tuổi của các nhà xã hội học tiêu biểu như: George Homans, Peter Blau, James Coleman… Thuyết lựa chọn duy lý dựa vào tiền đề cho rằng con người luôn hành động một cách có mục đích, có suy nghĩ thận trọng để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một cách duy lý nhằm đạt được lợi ích tối đa với chi phí hao tổn ở mức thấp nhất.
Phạm vi của mục đích lựa chọn của con người không chỉ riêng ở lĩnh vực vật chất (lãi, lợi nhuận, thu nhập) mà còn thể hiện sự duy lý trong xã hội và tinh thần. Trong 15 thực tế, lý thuyết về sự lựa chọn duy lý với những biến thể của nó đã được triển khai trên nhiều cấp độ từ hành động xã hội của cá nhân đến chức năng của hệ thống xã hội và mối tương tác giữa cá nhân, nhóm, thiết chế và hệ thống xã hội. Nhà xã hội học Rodney Stark và Bainbridge đã trình bày những quan điểm của mình trong quyển sách “The Future of Religion” (1985) và “A Theory of Religion” (1987) về sự lựa chọn duy lý trong tôn giáo và cho rằng lý thuyết lựa chọn duy lý là một chủ thuyết lớn và có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giải thích các hiện tượng tôn giáo. Bên cạnh sự giải thích của lý thuyết chức năng, thuyết tương tác tượng trưng thì các quan điểm của lý thuyết lựa chọn duy lý đã giúp cho chúng ta có một cái nhìn toàn diện hơn về các hiện tượng tôn giáo.
Trong đề tài này, chúng tôi nghĩ, thuyết sự lựa chọn duy lý sẽ giúp giải thích được sự duy lý trong việc lựa chọn con đường nhập thế của giáo hội Cao Đài Tây Ninh và sự duy lý của các tín đồ tôn giáo trong việc lựa chọn đặt niềm tin vào tôn giáo hoặc lựa chọn phương thức để đi đến cõi thiêng liêng hằng sống của đạo Cao Đài.