chương I điều 1 đã viết: Chính phủ phải đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng và quyền tự do thờ cúng của nhân dân. Không ai được xâm phạm quyền tự do ấy, mỗi người dân Việt Nam đều có quyên theo và không theo một tôn giáo nào. Các nhà tu hành được tự do giảng đạo tại các cơ quan tôn giáo (như nhà thờ, chùa, thánh thất, trường giáo lý). Trong buổi tiếp xúc cử tri Hà Nội, ngày 10/5/1958, khi trả lời câu hỏi của cử tri: “Tiến lên chủ nghĩa xã hội thì tôn giáo có bị hạn chế không?”, Người đã tra lời rất rõ: “Không.
Ở các nước xã hội chủ nghĩa, tín ngưỡng hoàn toàn tự do. Ở Việt Nam cũng vậy” Trên tinh thần đó, với đồng bào có tôn giáo, Hồ Chí Minh luôn dành sự trân trọng, tình cảm yêu mến nồng hậu, chân thành như những người dân khác, không hề có sự xa cách, kì thị. Người luôn kip thời động viên tinh thần đồng bào các tôn giáo vào các dịp lễ quan trọng của tôn giáo họ, chính sự tinh tế đó của Người đã góp phần gắn kết đồng bào các tôn giáo với nhau trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Như trong một bức thư gửi đồng bào Công giáo nhân dịp lễ Nô- en, Người dùng lời chào thân mật: Đồng bào thân mến; hay những lời lẽ thể hiện tình đoàn kết sâu đậm: “Trong ngày lễ Nôen, tôi mong đồng bào nhớ cầu nguyện cho những chiến sĩ giáo và lương đã kháng chiến anh đũng và đã oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc”.
“Tôi xin gửi đồng bào lời chào thân ái và quyết thắng và kính cầu Đức Chúa ban cho đồng bào mọi phúc lành” [23, tr. Trong bài thơ Mười chính sách của Việt Minh, Hồ Chí Minh đã viết: "Hội he, tín ngưỡng, báo chương Họp hành, đi lại có quyền tự do" [19, tr.152] 14 Tự do tôn giáo là một trong những nội dung về quyền tự do của con người cần được tôn trọng và đảm bảo. Đây là một trong những nội dung căn bản, cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo. Kế thừa, hoc tập và vận dụng linh hoạt tư tưởng này của Chủ tịch H6 Chí Minh là việc làm cần thiết của công tác tôn giáo.
Thứ hai, chủ tịch Hồ Chí Minh dé cao sự tương đông giữa các tôn giáo và sự tương đồng giữa tôn giáo và chủ nghĩa xã hội. Trong quan điểm Hồ Chí Minh, các tôn giáo lớn, các học thuyết lớn đều có điểm tương đồng là hướng đến giải phóng con người, đem lại hạnh phúc cho con người và các giá trị đạo đức. Với tinh thần gạn đục, khơi trong, tiếp thu có chọn lọc tìm ra hạt nhân hợp lý, Hồ Chí Minh nhận thấy các tôn giáo hay các học thuyết lớn đều có khát vọng giải phóng con người khỏi áp bức, bất công, hướng con người đến với hạnh phúc. Các tôn giáo là nơi gửi gắm ước mơ, khát vọng của nhân dân về một cuộc sống tươi đẹp hơn, thoát khỏi những bắt công, khổ đau của cuộc sống thực tại.
Cũng như lý tưởng chủ nghĩa xã hội là giải phóng con người khỏi sự áp bức, bóc lột, đem lại cho con người cuộc sông 4m no, hạnh phúc. Người đã phân tích sâu sắc: “Học thuyết của Khổng Tử có wu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giêsu có wu điểm là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng.
Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách cua nó phù hợp với điều kiện nước ta. Khổng Tử, Giêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có những điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu câu hạnh phúc cho mọi người, mưu cầu phúc lợi cho xã hội. Nếu hôm nay họ còn sống trên đời này, nếu họp lại một cho, tôi tin rang ho nhất định chung sống với nhau rất toàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cô gắng làm người học trò nhỏ của các vi ấy ”122.
15 Tinh thần, điểm chung ấy chính là nền tang dé gắn kết đồng bào các tôn giáo và đồng bào cả nước. Trong Thư gửi đồng bào nhân ngày lễ Thiên Chúa giáng sinh, Người viết: “Gần 20 thể kỷ trước, một vị thánh nhân đã ra đời. Cả đời chỉ lo cứu thé độ dân, hy sinh cho tự do bình dang. Trong lúc này, thực dân Pháp gây cuộc chiến tranh chúng mong cướp nước ta lan nữa.
Chúng làm trái hắn với lòng bác ái cua Đức Giêsu. Toàn thể đồng bào ta, không chia lương giáo đoàn kết chặt chẽ, quyết long kháng chiến, để giữ gìn non sông Tổ quốc, mà cũng để gìn giữ quyên tôn giáo tu do” [23, tr. Giữa tôn giáo và chủ nghĩa xã hội đều chung mục đích lý tưởng đó. "Mục đích chính phủ ta theo đuổi là chiến đấu vì nền độc lập và đem lại hạnh phúc cho nhân dân.
Song để đạt tới hạnh phúc đó cho mọi người cần phải xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nếu đức Chúa Giê su sinh ra vào thời đại chúng ta và đặt mình trước những nỗi khổ đau của người đương thời, chắc ngài sẽ là một người xã hội chủ nghĩa đi tìm con đường cứu khô loài người". Hồ Chí Minh nhìn thấy điểm chung, giá trị chung của các tôn giáo đó chính là giá trị đạo đức của các tôn giáo. Tôn giáo nào cũng hướng đến cái thiện, hướng con người đến với lòng nhân ái, khoan dung, yêu thương, tôn trọng lẫn nhau.
Đó cũng chính là những giá trị đạo đức chung của nhân loại, cua con người. “Chúa Gié su dạy: Dao đức là bác ái Phật Thich Ca day: Đạo đức là từ bi Không Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa” [2I, tr. Dù là bác ai, từ bi hay nhân nghĩa thì đều là những giá tri đạo đức tốt đẹp con người cần hướng đến dé xây dựng cộng đồng xã hội hòa bình, an vui, hạnh phúc. 16 Thứ ba, bên cạnh điểm tương đông chủ tịch Hô Chí Minh cũng nhìn thấy rõ điểm khác biệt giữa tôn giáo với chủ nghĩa xã hội và tôn trọng sự khác biệt đó.
Về điều này, Người từng nói: “Chủ nghĩa duy linh và chủ nghĩa duy vật là khác nhau, rõ ràng là thế. Nhưng không vì thế mà chà đạp lên quyền tự do của nhau” [27, tr. Các tôn giáo hướng xây dựng cuộc sống tốt đẹp cho con người là Niết Bàn, là Thiên Đàng, là thế giới thần tiên,. nhưng thế giới đó là thế giới hư ảo, thế giới bên kia, thế giới sau khi chết.
Còn chủ nghĩa xã hội là xây dựng cho con người thế giới tươi đẹp ngay tại thực tại, thế giới con người đang sống. Sự khác biệt còn thể hiện ở phương pháp làm việc, phương pháp tư duy. Thứ tư, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi đoàn kết tôn giáo, đoàn kết dân tộc, phê phán mạnh mẽ việc lợi dụng tôn giáo đề chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân. Đại đoàn kết là truyền thống quý báu, nguồn sức mạnh vĩ đại đã được rèn luyện, thử thách qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.
Với tầm nhìn của một lãnh tụ chính trị thiên tài và sáng suốt, từ rất sớm chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức được vai trò to lớn của đoàn kết toàn dân, đó chính là mục tiêu, nhiệm vụ, điều kiện cơ bản để cách mạng thắng lợi. Trong khối đoàn kết toàn dân đó, đồng bào các tôn giáo là một bộ phận không thê tách rời. Do đó, đối với Người đoàn kết tôn giáo cũng chính là đoàn kết dân tộc - là mục tiêu, nhiệm vụ nhưng đồng thời cũng chính là vấn đề chiến lược, đưa đến những thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Tư tưởng đại đoàn kết của Người không chỉ bó hẹp trong phạm vi giữa người có đạo và không đạo mà còn đi sâu mở rộng vào việc đoản kết trong nội bộ đông bào các tôn giáo khác nhau.
Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác tôn giáo Các Văn kiện Đảng, nhất là từ Đại hội II (2/1951) đến Đại hội V (3/1982) liên tục khăng định quan điểm cơ bản, mang tính định hướng của Đảng về tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Nhưng dấu mốc quan trọng thể hiện sự đổi mới tư duy của Đảng ta về tôn giáo và công tác tôn giáo là Nghị quyết 24/NQ-TW ngày 16-10-1990 của Bộ Chính trị (khóa VI). Nghị quyết 24 thé hiện, cùng với đổi mới nhận thức về tôn giáo, công tác tôn giáo cũng có quan điểm chỉ đạo rõ ràng. Đảng Cộng sản Việt Nam coi công tác tôn giáo là công tác chính trị đặc biệt, là một bộ phận của đường lối chính trị của Đảng, do cả hệ thống chính trị thực hiện dưới sự chỉ đạo trực tiếp toàn diện của Đảng.
Nghị quyết 24 xác định rõ ba quan điểm chỉ đạo công tác tôn giáo: Một là, vừa quan tâm giải quyết hợp lý nhu cầu tín ngưỡng của quần chúng, vừa cảnh giác kịp thời đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo phá hoại cách mạng Hai là, Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng Ba là, làm tốt công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo. Ngày 2/7/1998, Bộ Chính trị ra chỉ thị 37 NQ/TW về công tác tôn giáo trong tình hình mới, nhằm đáp ứng nhu cau của thực tiễn khi đó khi mà hoạt động tôn giáo ở một số nơi chưa đúng theo pháp luật, cán bộ làm công tác tôn giáo chưa nhận thức đầy đủ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nên chưa làm tốt nhiệm vụ hướng dẫn, vận động tín đồ và chức sắc tôn giáo. Trong Chỉ thị đã chỉ ra một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tôn giáo, có thê tóm tắt như sau: + Cấp ủy Đảng và chính quyền các cấp phải đảm bảo sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo bình thường, lành mạnh, hợp pháp, thường xuyên chăm lo 18 đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần va nâng cao trình độ mọi mặt của nhân dân nói chung, trong đó có đồng bào các tôn giáo. Vận động tín đồ, chức sắc, nhà tu hành trong các tôn giáo thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ của công dân, tích cực tham gia nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng an ninh và xây dựng cuộc sống mới cở cơ sở, ở các khu dân cư.
+ Tích cực tuyên truyền, pho bién, giải thích chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước. Phát huy những giá trị văn hóa đạo đức lành mạnh, hướng thiện của các tôn giáo. Thực hiện tôn giáo gắn bó với dân tộc. + Bồ sung các Nghị định, soạn thảo pháp lệnh, có quy định, hướng dẫn.