Tổng quan về luận án
Nghiên cứu của nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Sỹ dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Hoàng Minh Đô tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2019) với đề tài "Hoạt động an sinh xã hội của một số tôn giáo nội sinh ở Tây Nam Bộ hiện nay" (Mã số chuyên ngành: 62 22 03 09 - Tôn giáo học) là một công trình tiên phong tiếp cận đa chiều về vai trò thực chứng của các thiết chế tôn giáo bản địa trong mạng lưới phúc lợi xã hội. Tây Nam Bộ (TNB) mang đặc trưng sinh thái - văn hóa sông nước đặc thù, vừa là cái nôi sản sinh các tôn giáo nội sinh (TGNS) vào cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, vừa là địa bàn chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu, sạt lở bờ sông, bờ biển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và biến động sinh kế. Đời sống cư dân nơi đây đối mặt với nhiều chỉ số rủi ro xã hội cao: theo thống kê dân sinh trong luận án, độ tuổi từ 15 trở lên chưa từng đi học chiếm 6,6%, chưa tốt nghiệp tiểu học chiếm 32,8% (mức cao nhất so với các vùng trong cả nước), tỷ lệ hộ nghèo chiếm 7,9%, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số Khmer chiếm trên 50% tổng số hộ nghèo toàn vùng.
Khoảng trống nghiên cứu (research gap) cốt lõi được luận án định vị là: Dù các tổ chức tôn giáo nội sinh tham gia sâu rộng vào đời sống cứu trợ và y tế cộng đồng, các công trình học thuật trước đây chỉ tiếp cận tản mạn, đơn lẻ từng tổ chức, hoặc dừng lại ở mức độ biểu dương, liệt kê mang tính định tính một chiều. Thiếu vắng một nghiên cứu hệ thống cấp vùng, phân tích toàn diện trên cơ sở lý luận chính sách công và tôn giáo học về cơ chế huy động nguồn lực, mô hình tổ chức, thành tựu cũng như các rào cản thể chế, rủi ro tiềm ẩn về an ninh - xã hội. Luận án đặt ra 3 câu hỏi nghiên cứu (RQs) và 3 giả thuyết nghiên cứu (Hypotheses) tương ứng:
- Câu hỏi nghiên cứu 1 (RQ1): Là các tôn giáo nội sinh ra đời tại chỗ với quy mô tín đồ không lớn so với các tôn giáo toàn cầu, tại sao Tứ Ân Hiếu Nghĩa (TAHN), Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam (TĐCS) và Phật giáo Hòa Hảo (PGHH) lại xây dựng được mạng lưới an sinh xã hội (ASXH) sâu rộng và vận hành hiệu quả tại Tây Nam Bộ?
- Câu hỏi nghiên cứu 2 (RQ2): Thực trạng các mô hình và lĩnh vực tham gia ASXH của ba tôn giáo nội sinh này diễn ra như thế nào theo các trụ cột an sinh của Việt Nam, đâu là thành tựu và hạn chế mang tính cấu trúc?
- Câu hỏi nghiên cứu 3 (RQ3): Nguồn lực nội tại của các tôn giáo nội sinh có đảm bảo tính bền vững để duy trì, mở rộng phạm vi hỗ trợ trong tương lai, và Nhà nước cần can thiệp chính sách như thế nào để tối ưu hóa nguồn lực này?
- Giả thuyết nghiên cứu 1 (H1): Động lực tham gia ASXH của tín đồ TGNS bắt nguồn từ sự chuyển hóa giáo lý cốt lõi (đặc biệt là triết lý "Tứ đại trọng ân", "Học Phật - Tu Nhân" và hạnh "Bố thí" trong Lục độ) thành vốn xã hội và bổn phận luân lý tự nguyện gắn liền với đời sống thường nhật.
- Giả thuyết nghiên cứu 2 (H2): Mô hình ASXH của TGNS vận hành linh hoạt, có tính kết nối cộng đồng cao nhưng thiếu tính chuyên nghiệp hóa, đối mặt với thách thức nghiêm trọng về tính bền vững tài chính, kỹ thuật y tế chuyên sâu và khung khổ pháp lý chuyên ngành.
- Giả thuyết nghiên cứu 3 (H3): Sự cộng hưởng giữa quản trị công và năng lực xã hội hóa của TGNS sẽ tạo ra mô hình đối tác công - tôn giáo hiệu quả nếu Nhà nước hoàn thiện thể chế pháp lý, ngược lại sự thiếu giám sát sẽ tiềm ẩn rủi ro trật tự an toàn xã hội.
Phạm vi nghiên cứu xác lập rõ nét: Về thời gian, tập trung từ giai đoạn Đổi mới (1986) đến năm 2018; về không gian, bao quát địa bàn 13 tỉnh, thành phố trực thuộc khu vực Tây Nam Bộ; về đối tượng, khảo sát chuyên sâu 3 tôn giáo nội sinh tiêu biểu có nguồn gốc từ nền tảng Phật giáo gồm TAHN, TĐCS và PGHH trong 4 lĩnh vực trọng tâm: y tế phước thiện, giáo dục, bảo trợ xã hội và cứu trợ nhân đạo.
Literature Review và Positioning
Tổng quan tài liệu trong luận án được cấu trúc thành ba dòng nghiên cứu chính:
Dòng thứ nhất tập trung vào lý luận và mô hình chính sách ASXH hiện đại. Nhóm nghiên cứu trong nước gồm Mai Ngọc Cường (2009) phân tích 4 trụ cột an sinh; Phạm Văn Sáng (2009) mô hình hóa ASXH cấp tỉnh; Đặng Nguyên Anh (2013) và Nguyễn Thị Lan Hương (2013) định hình các rào cản và giải pháp thực thi chính sách đến 2020. Dòng nghiên cứu quốc tế gồm các công trình của Tổ chức Lao động Quốc tế ILO (1992), Robert Chambers (1991), Evans và cộng sự (2007) về tính lũy tiến của ASXH tại Việt Nam, Nancy J. Altman (2005) về lịch sử thể chế phúc lợi Hoa Kỳ, và các nghiên cứu về già hóa dân số Nam Á của ADB/WB.
Dòng thứ hai khảo sát mối quan hệ giữa tôn giáo, vốn xã hội và hoạt động bác ái. Các học giả quốc tế tiêu biểu như Robert Wuthnow và Virginia Ann Hodgkinson (1990) trong công trình kinh điển tại Hoa Kỳ đã chứng minh tín đồ đi nhà thờ thường xuyên có xu hướng hoạt động thiện nguyện vượt trội, chiếm 2/3 tổng đóng góp cá nhân của xã hội; John Wilson và Thomas Janoski (1995) phân tích sự tương thuộc giữa tư cách thành viên tôn giáo và công tác tình nguyện. Tại Trung Quốc, các tác giả Đào Phi Á và Lưu Nghĩa (2012), Gong Wan-da và Liu Zu-yun (2013), Trần Diên Siêu (2015) phân tích quá trình Đảng Cộng sản Trung Quốc ban hành chính sách năm 2012 nhằm "khích lệ và hướng dẫn giới tôn giáo hoạt động từ thiện công ích", coi từ thiện tôn giáo là bộ phận bổ sung thiết yếu cho mạng lưới an sinh quốc gia. Tại Việt Nam, Đỗ Quang Hưng (2010), Nguyễn Hồng Dương (2012), Nguyễn Thanh Xuân (2015) và Lê Bá Trình (2017) đã chỉ rõ tôn giáo là nguồn lực vật chất và tinh thần to lớn chia sẻ gánh nặng ngân sách quốc gia.
Dòng thứ ba đi sâu vào tôn giáo bản địa Nam Bộ với các công trình của Phạm Bích Hợp (2007) về tư tưởng Hiếu - Hòa và xu hướng nhập thế của người Nam Bộ.
Từ tổng quan tài liệu, luận án chỉ ra hai cuộc tranh luận học thuật lớn:
- Tranh luận về Thuyết Thế tục hóa (Secularization): Các lý thuyết cổ điển của Max Weber, Auguste Comte, Emile Durkheim cho rằng hiện đại hóa sẽ làm suy giảm thẩm quyền và vai trò xã hội của tôn giáo. Ngược lại, thực tiễn chứng minh tôn giáo không biến mất mà chuyển hóa công năng, gia tăng ảnh hưởng thế tục thông qua cung cấp dịch vụ phúc lợi xã hội (như lập luận của Howard P. Becker).
- Tranh luận về tính chất của từ thiện tôn giáo: Một trường phái phê phán cho rằng từ thiện tôn giáo mang tính tự phát, phân tán, thiếu tiêu chuẩn kỹ thuật chuyên ngành và có nguy cơ bị lợi dụng để phát triển tín đồ ngoài tầm kiểm soát. Trường phái thứ hai khẳng định các tổ chức tôn giáo là đối tác công - tư thiết yếu (Faith-Based Organizations - FBOs) sở hữu mạng lưới cơ sở sâu rộng mà bộ máy hành chính nhà nước không thể bao phủ toàn diện.
Luận án định vị mình tại điểm giao thoa giữa Tôn giáo học và Khoa học Quản trị công, vượt qua hạn chế của các công trình đi trước vốn chỉ dừng lại ở góc độ mô tả lịch sử hoặc liệt kê số liệu từ thiện đơn thuần, để xây dựng khung phân tích liên ngành có tính định lượng và tư vấn chính sách chuẩn xác.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án mở rộng Lý thuyết Cấu trúc - Chức năng (Structural - Functionalism) của Robert K. Merton và Talcott Parsons trong bối cảnh xã hội học tôn giáo phương Đông. Luận án chứng minh rằng các tôn giáo nội sinh không chỉ thực hiện chức năng đáp ứng nhu cầu tâm linh (chức năng hiển ngôn - manifest function) mà còn đảm nhiệm chức năng tiềm ẩn (latent function) là tái phân phối nguồn lực kinh tế - xã hội tại các cộng đồng nông thôn hoang hóa, vùng sâu vùng xa.
Đồng thời, công trình thách thức quan điểm thế tục hóa đơn tuyến khi luận giải rằng quá trình "nhập thế" thông qua ASXH của TAHN, TĐCS và PGHH là một phương thức thế tục hóa tích cực: tôn giáo giản lược nghi lễ rườm rà, đưa đạo vào đời sống thường nhật bằng phương châm "Học Phật - Tu Nhân", coi việc cứu tế tha nhân là thước đo cao nhất của sự giác ngộ. Luận án chuẩn hóa khái niệm "Tôn giáo nội sinh" (Indigenous Religions) tại Việt Nam: là những thực thể tôn giáo được sản sinh hoàn toàn trên lãnh thổ quốc gia, gắn liền với tiến trình lịch sử khẩn hoang Nam Bộ, mang cấu trúc dung hợp Tam giáo đồng nguyên kết hợp với Phật giáo dân gian, lấy luân lý Tứ ân làm bệ đỡ đức tin.
Khung phân tích độc đáo
Luận án thiết lập khung phân tích tích hợp dựa trên 4 trụ cột lý thuyết:
- Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Phân tích mối quan hệ giữa tồn tại xã hội (điều kiện tự nhiên, kinh tế, biến động xã hội vùng Tây Nam Bộ) và ý thức xã hội (sự hình thành đức tin tôn giáo nội sinh).
- Lý thuyết Cấu trúc - Chức năng: Như luận án trích dẫn nhận định của nhà xã hội học: "Mọi hệ thống đều bao gồm các yếu tố có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và mạng lưới các mối quan hệ đó tạo thành cấu trúc của hệ thống... Mỗi hệ thống đều có quan hệ với môi trường cảnh quang xung quanh". Lý thuyết này giải thích mối liên kết hữu cơ nội bộ giữa chức việc - tín đồ và sự liên kết ngoại biên giữa tôn giáo với cộng đồng.
- Lý thuyết Quản trị công mới (New Public Governance): Nhấn mạnh sự tất yếu của mô hình hợp tác tam giác: Nhà nước (State) - Thị trường (Market) - Xã hội/Tôn giáo (Civil Society/Religious Sector) nhằm khắc phục "thất bại của nhà nước" và "thất bại của thị trường" trong cung ứng dịch vụ công.
- Lý thuyết Chính sách công (Public Policy Analysis): Đối chiếu thực tiễn hoạt động tôn giáo với 5 trụ cột ASXH của Nhà nước Việt Nam nhằm đánh giá mức độ tương thích thể chế và phát hiện các rào cản chính sách.
Khung phân tích này thiết lập điều kiện biên (boundary conditions) rõ ràng: áp dụng tối ưu cho các tôn giáo nội sinh có nguồn gốc Phật giáo tại vùng đồng bằng sông Cửu Long, nơi có cấu trúc văn hóa xóm ấp gắn kết và truyền thống tương thân tương ái lâu đời.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Luận án áp dụng lập trường nhận thức luận duy vật lịch sử kết hợp thuyết diễn giải xã hội học tôn giáo. Thiết kế nghiên cứu đa tầng (Multi-level design) được triển khai:
- Cấp độ vĩ mô (Macro-level): Phân tích hệ thống quan điểm, chủ trương của Đảng và các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước về ASXH và tôn giáo (Nghị quyết số 24-NQ/TW năm 1990, Nghị quyết số 15-NQ/TW năm 2012, Pháp lệnh Tín ngưỡng Tôn giáo 2004, Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo 2016).
- Cấp độ trung mô (Meso-level): Nghiên cứu cơ cấu tổ chức, hiến chương, phương thức điều hành nguồn lực của Ban Trị sự Trung ương PGHH, TĐCS Phật hội và TAHN.
- Cấp độ vi mô (Micro-level): Khảo sát thái độ, động cơ tham gia của tín đồ, mạng lưới tình nguyện viên và mức độ hài lòng của người dân thụ hưởng dịch vụ cứu trợ, y tế tại cơ sở.
Quy trình nghiên cứu rigorous
Quy trình nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa các công cụ thu thập dữ liệu sơ cấp và thứ cấp:
- Thu thập dữ liệu thứ cấp: Tổng hợp các báo cáo tổng kết Phật sự, số liệu tài chính qua các nhiệm kỳ của PGHH, TĐCS, TAHN; báo cáo giám sát của Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) các tỉnh Tây Nam Bộ và số liệu hành chính của Ban Tôn giáo Chính phủ.
- Thu thập dữ liệu sơ cấp (Điền dã khảo sát): Tác giả tiến hành quan sát tham dự, phỏng vấn sâu các chức sắc, chức việc, đội ngũ y sinh Nam y phước thiện, tài xế đội xe chuyển bệnh miễn phí, công nhân các đội vá đường, cất nhà từ thiện, và các đối tượng hưởng lợi (hộ nghèo, người già neo đơn, bệnh nhân nghèo).
- Tam giác đạc (Triangulation): Luận án thực hiện đối chiếu chéo giữa số liệu tự báo cáo của các tổ chức tôn giáo, số liệu thống kê của cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh/huyện và kết quả khảo sát thực địa độc lập để triệt tiêu sai lệch dữ liệu.
Data và phân tích
Phân tích dữ liệu kết hợp định tính phân tích nội dung giáo lý và định lượng thống kê mô tả:
- Phân tích cấu trúc tài chính thông qua chuỗi dữ liệu thứ cấp dài hạn: Kinh phí hoạt động ASXH của PGHH qua từng nhiệm kỳ (Biểu đồ 3.4), kinh phí Y tế Phước thiện của TĐCS giai đoạn 2011 - 2013 (Biểu đồ 3.2), kinh phí ASXH so sánh giữa các tôn giáo trong 5 năm (Biểu đồ 3.5, Bảng 3.2), và thống kê thực hiện cứu trợ xã hội năm 2018 (Bảng 3.1).
- Đo lường sự hài lòng của cộng đồng: Xử lý dữ liệu điều tra thực tế về mức độ hài lòng đối với mô hình xe chuyển bệnh miễn phí (Biểu đồ 3.1) và hoạt động khám chữa bệnh, bốc thuốc nam miễn phí (Biểu đồ 3.3).
- Đo lường mức độ tương tác thể chế: Đánh giá chỉ số phối hợp giữa các tôn giáo nội sinh với MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội (Biểu đồ 3.6 và 3.7).
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
- Phát hiện 1: Sức mạnh huy động vốn xã hội dựa trên nền tảng giáo lý Tứ đại trọng ân và Lục độ. Luận án chỉ ra rằng giáo lý tôn giáo nội sinh đã chuyển hóa giáo lý Phật giáo thành hệ thống chuẩn mực hành động giản dị, dễ thực hành. Ba tôn giáo đều lấy "Bố thí" làm đầu trong Lục độ hạnh. Như Nguyễn Thanh Xuân (2015) ghi nhận, tinh thần này thấm sâu vào tín đồ qua câu ca dao: "Dẫu xây chín bậc phù đồ / Không bằng làm phúc giúp cho một người", hay lời răn dạy của Huỳnh Giáo chủ PGHH: "Của dư cho mượn mới là / Chỉ bằng bố đức lập nền từ bi". Động lực này tạo ra sự tự nguyện tuyệt đối, giúp huy động nguồn lực tài chính và hàng triệu ngày công lao động mà không tốn chi phí quản lý hành chính.
- Phát hiện 2: Sự hình thành các mô hình ASXH chuyên biệt hóa cao độ. Mỗi tôn giáo nội sinh xác lập một phân khúc dịch vụ xã hội đặc thù:
- Tịnh độ Cư sĩ Phật hội (TĐCS): Chuyên biệt hóa tuyệt đối vào mô hình "Y tế Phước thiện", phát triển mạng lưới phòng thuốc nam và châm cứu miễn phí tại hầu hết các phân hội, kết hợp chặt chẽ giữa việc trồng, thu hái dược liệu tự nhiên với trị bệnh cứu người.
- Phật giáo Hòa Hảo (PGHH): Thống trị mảng hạ tầng giao thông nông thôn và cứu trợ khẩn cấp với các đội thi công cầu bê tông, đội vá đường, chuỗi bếp ăn từ thiện tại các bệnh viện đa khoa và hệ thống "xe chuyển bệnh miễn phí" 0 đồng hoạt động 24/7.
- Tứ Ân Hiếu Nghĩa (TAHN): Duy trì mô hình tương tế cộng đồng nông thôn, cứu trợ thiên tai, cưu mang người già neo đơn và hỗ trợ hỏa táng miễn phí.
- Phát hiện 3: Tỷ lệ hài lòng và chỉ số tín nhiệm xã hội vượt bậc. Dữ liệu khảo sát thực tế trong luận án chứng minh mô hình xe chuyển bệnh miễn phí và khám chữa bệnh phước thiện đạt tỷ lệ hài lòng gần như tuyệt đối từ người dân nghèo, nhờ tính phản ứng nhanh, thái độ phục vụ tận tụy và quy chế tài chính hoàn toàn phi lợi nhuận.
- Phát hiện 4: Bộc lộ những điểm nghẽn và hạn chế mang tính hệ thống. Luận án chỉ rõ các hạn chế nghiêm trọng: Quản lý tài chính tại nhiều cơ sở còn mang tính sơ sài, thiếu kiểm toán chuyên nghiệp; trình độ y lý, y thuật của một số y sinh đông y tại các phòng thuốc nam chưa qua đào tạo bài bản, tiềm ẩn rủi ro về an toàn y tế; cơ sở vật chất, trang thiết bị cứu hộ còn thô sơ; quy mô cứu trợ phân tán, thiếu tính chiến lược lâu dài.
- Phát hiện 5: Sự bất cập của khung khổ pháp lý hiện hành. Cơ chế quản lý nhà nước về ASXH đối với tôn giáo còn bộc lộ khoảng trống: quy định về việc thành lập cơ sở bảo trợ xã hội tư thục, cấp phép hoạt động phòng chẩn trị đông y từ thiện, hay tiêu chuẩn kỹ thuật kiểm định cầu đường nông thôn tự xây còn phức tạp, chồng chéo giữa Luật Khám chữa bệnh, Luật Xây dựng và Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo, tạo rào cản hành chính cho hoạt động thiện nguyện.
Implications đa chiều
- Ý nghĩa lý thuyết (Theoretical Implications): Bổ sung vào lý thuyết Xã hội học Tôn giáo và Chính sách công luận điểm: Tôn giáo nội sinh tại các quốc gia đang phát triển là một cấu phần của "khu vực thứ ba" (Third Sector), hoạt động như một cơ chế bảo hiểm xã hội phi chính thức (informal social safety net) hiệu quả tại các vùng trũng về phúc lợi.
- Ý nghĩa phương pháp luận (Methodological Implications): Xác lập khung tiếp cận liên ngành (Tôn giáo học - Quản trị công - Xã hội học) có thể áp dụng nghiên cứu các tổ chức tôn giáo bản địa khác ở khu vực Đông Nam Á.
- Hàm ý thực tiễn và chính sách (Policy Implications):
- Đối với cơ quan hoạch định chính sách: Cần thể chế hóa rõ ràng quy chế pháp lý cho các mô hình ASXH của tôn giáo; đơn giản hóa thủ tục hành chính cấp phép phòng khám phước thiện và thành lập các trung tâm bảo trợ xã hội tôn giáo.
- Đối với ngành Y tế và Xây dựng: Hỗ trợ chuẩn hóa chuyên môn, chuyển giao kỹ thuật kiểm nghiệm dược liệu đông y, đào tạo cấp chứng chỉ hành nghề y học cổ truyền cho chức việc tôn giáo; ban hành hướng dẫn kỹ thuật chuẩn cho các công trình cầu đường dân sinh do tôn giáo thi công.
- Đối với Mặt trận Tổ quốc và chính quyền địa phương: Xây dựng cơ chế phối hợp định kỳ, phát huy vai trò giám sát, định hướng dòng tiền thiện nguyện vào các chương trình mục tiêu quốc gia (giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới).
- Đối với bản thân các tôn giáo nội sinh: Phải minh bạch hóa tài chính qua sổ sách kế toán; nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ tình nguyện viên; tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp luật để tránh nguy cơ bị các phần tử xấu lợi dụng hoạt động thiện nguyện gây mất an ninh, trật tự xã hội.
Limitations và Future Research
Luận án thẳng thắn thừa nhận các giới hạn nghiên cứu:
- Giới hạn dữ liệu: Số liệu tài chính thiện nguyện phần lớn được tổng hợp từ báo cáo định kỳ của các Ban Trị sự tôn giáo và báo cáo của MTTQ, chưa có điều kiện kiểm chứng thông qua các báo cáo kiểm toán độc lập theo chuẩn mực kế toán tài chính quốc tế.
- Giới hạn mẫu khảo sát: Luận án tập trung vào 3 tôn giáo nội sinh tiêu biểu (TAHN, TĐCS, PGHH), chưa bao quát toàn bộ các tổ chức tôn giáo nội sinh hoặc hiện tượng tôn giáo mới khác tại Nam Bộ (như Đạo Cao Đài hay Bửu Sơn Kỳ Hương).
- Giới hạn thời gian: Khung thời gian dữ liệu dừng lại ở năm 2018, chưa phản ánh các biến động phức tạp của hoạt động thiện nguyện tôn giáo trong giai đoạn đại dịch COVID-19 và bối cảnh chuyển đổi số sau năm 2019.
Chương trình nghiên cứu tương lai (Future Research Agenda) mở ra 4 hướng:
- Đánh giá tác động của không gian số và chuyển đổi số đối với phương thức gây quỹ và phân phối cứu trợ của các tôn giáo nội sinh.
- Nghiên cứu so sánh xuyên quốc gia (Comparative cross-national study) giữa mô hình ASXH của tôn giáo nội sinh Việt Nam với các phong trào Phật giáo nhập thế tại Thái Lan (như Santi Asoke) và các tổ chức tôn giáo cộng đồng tại Đài Loan (Tzu Chi).
- Nghiên cứu định lượng ứng dụng mô hình phương trình cấu trúc (SEM) đo lường chính xác tác động của vốn xã hội tôn giáo đến chỉ số an sinh của hộ gia đình nghèo.
- Khảo sát an toàn dược liệu học và chuỗi cung ứng cây thuốc nam trong hệ thống Y tế Phước thiện của TĐCS.
Tác động và ảnh hưởng
- Tác động học thuật (Academic Impact): Công trình là luận án tiến sĩ đầu tiên nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về hoạt động ASXH của các tôn giáo nội sinh tại vùng Tây Nam Bộ, cung cấp nguồn tư liệu thực chứng chuẩn xác cho các giáo trình Tôn giáo học, Xã hội học và Chính sách xã hội.
- Tác động chính sách (Policy Impact): Các phát hiện và khuyến nghị của luận án cung cấp luận cứ khoa học trực tiếp cho Ban Tôn giáo Chính phủ, Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, và Ban Dân vận Trung ương trong việc thể chế hóa các chính sách khuyến khích tôn giáo tham gia xã hội hóa y tế, giáo dục và bảo trợ xã hội.
- Tác động xã hội (Societal Benefits): Góp phần thay đổi nhận thức của các cấp ủy, chính quyền cơ sở, xóa bỏ cái nhìn định kiến khắt khe đối với tôn giáo, tạo môi trường thuận lợi để giải phóng và chuyển hóa nguồn lực tôn giáo nội sinh thành hàng trăm tỷ đồng mỗi năm phục vụ an sinh cộng đồng, trực tiếp giúp đỡ hàng triệu lượt người nghèo vùng sông nước.
- Ý nghĩa quốc tế (International Relevance): Đóng góp bằng chứng thực nghiệm giá trị vào diễn đàn quốc tế về vai trò của các tổ chức tôn giáo bản địa (Faith-Based Organizations) trong việc thực hiện các Mục tiêu Phát triển Bền vững của Liên Hợp Quốc (UN SDGs), đặc biệt là Mục tiêu 1 (Xóa nghèo), Mục tiêu 3 (Sức khỏe tốt và Cuộc sống hạnh phúc) và Mục tiêu 10 (Giảm bất bình đẳng).
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh và Giảng viên đại học: Tiếp cận khung phân tích lý thuyết liên ngành mẫu mực giữa Tôn giáo học, Xã hội học Tôn giáo và Khoa học Quản trị công.
- Nhà hoạch định chính sách tôn giáo và an sinh xã hội: Nắm bắt bức tranh thực chứng toàn diện, từ đó xây dựng các chính sách quản lý nhà nước vừa đảm bảo an ninh chính trị, vừa phát huy tối đa nguồn lực xã hội hóa của tôn giáo.
- Lãnh đạo Ban Trị sự các tôn giáo nội sinh: Nhận diện rõ những điểm nghẽn nội tại về tính chuyên nghiệp, năng lực y tế, quản trị tài chính để tiến hành cải tổ tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động cứu độ tha nhân.
- Các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và tổ chức phát triển: Tìm kiếm cơ hội hợp tác chiến lược với các mạng lưới tình nguyện viên tôn giáo cơ sở trong các dự án phát triển nông thôn, y tế cộng đồng và ứng phó biến đổi khí hậu.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì và đã mở rộng lý thuyết nào?
Trả lời: Đóng góp độc đáo nhất là việc vận dụng sáng tạo Lý thuyết Cấu trúc - Chức năng của R.K. Merton và Lý thuyết Quản trị công mới để luận giải bản chất của tôn giáo nội sinh như một "thực thể phúc lợi xã hội phi chính thức". Luận án đã mở rộng lý thuyết xã hội học tôn giáo khi chỉ ra rằng trong điều kiện sinh thái văn hóa Tây Nam Bộ, các giáo lý "Tứ đại trọng ân", "Tu Nhân - Học Phật" và "Lục độ Ba-la-mật" đóng vai trò như một cơ chế kích hoạt "vốn tôn giáo nội sinh", chuyển hóa niềm tin tâm linh thành nghĩa vụ công dân và hành động cứu tế xã hội tự nguyện, bổ khuyết trực tiếp cho các khoảng trống của hệ thống an sinh nhà nước.
2. Điểm đổi mới phương pháp luận khi so sánh với các công trình đi trước là gì?
Trả lời: So với các nghiên cứu trước đây (như công trình của Đỗ Quang Hưng 2010 hay Nguyễn Thanh Xuân 2015) vốn chủ yếu dùng phương pháp lịch sử và tổng thuật định tính, luận án của Nguyễn Văn Sỹ kết hợp phương pháp luận duy vật biện chứng với phương pháp tiếp cận liên ngành (Tôn giáo học, Xã hội học, Quản trị công). Luận án triển khai tam giác đạc dữ liệu (Data triangulation), kết hợp khảo sát điền dã thực tế, phân tích biểu đồ thống kê chuyên sâu qua nhiều nhiệm kỳ (1986 - 2018), đối chiếu giữa báo cáo nội bộ tôn giáo, dữ liệu quản lý nhà nước và mức độ hài lòng thực tế của người thụ hưởng.
3. Phát hiện nào trong luận án gây bất ngờ nhất và có bằng chứng dữ liệu ra sao?
Trả lời: Phát hiện bất ngờ nhất là tính chuyên môn hóa dịch vụ rất cao và mô hình tổ chức tự quản chặt chẽ của các tôn giáo nội sinh, trái ngược với định kiến thông thường cho rằng từ thiện tôn giáo bản địa chỉ mang tính bột phát, cảm tính. Dữ liệu chứng minh TĐCS đã xây dựng một "hệ sinh thái Y tế Phước thiện" hoàn chỉnh từ khâu trồng, thu hái thảo dược đến khám chữa bệnh miễn phí; PGHH vận hành hệ thống xe chuyển viện 0 đồng và các đội xây cầu bê tông nông thôn đạt tỷ lệ hài lòng rất cao của người dân nghèo (Biểu đồ 3.1 và 3.3), với nguồn kinh phí huy động nội bộ lên đến hàng trăm tỷ đồng qua các nhiệm kỳ (Biểu đồ 3.4, Bảng 3.2).
4. Luận án có cung cấp quy trình/giao thức chuẩn để tái lập nghiên cứu không?
Trả lời: Có. Luận án thiết lập quy trình nghiên cứu chuẩn hóa gồm: (1) Khung phân tích lý thuyết 4 trụ cột; (2) Bộ tiêu chí đánh giá hoạt động tôn giáo theo 5 trụ cột ASXH của Việt Nam; (3) Giao thức điền dã khảo sát kết hợp phỏng vấn sâu chức sắc và người thụ hưởng; (4) Phương pháp xử lý và kiểm định chéo số liệu giữa tôn giáo - nhà nước - cộng đồng. Quy trình này cho phép các nhà nghiên cứu khác hoàn toàn có thể tái lập và áp dụng cho các vùng tôn giáo khác (như đồng bào Công giáo miền Trung hay Phật giáo Khmer Nam Bộ).
5. Chương trình nghị sự nghiên cứu 10 năm tới được phác thảo thế nào?
Trả lời: Luận án định hướng chương trình nghị sự 10 năm tới tập trung vào: (1) Nghiên cứu cơ chế chuyển đổi số và công nghệ tài chính (Fintech) trong quản trị quỹ từ thiện tôn giáo; (2) Thể chế hóa mô hình Đối tác Công - Tôn giáo (Public-Religious Partnership) trong cung ứng dịch vụ y tế và bảo trợ xã hội; (3) Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu cực đoan tại ĐBSCL đối với sự dịch chuyển mô hình cứu trợ của các tôn giáo nội sinh; (4) Xây dựng tiêu chuẩn kiểm định chất lượng y tế học cổ truyền cho hệ thống phòng thuốc nam thiện nguyện.
Kết luận
- Luận án đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận, thực tiễn về an sinh xã hội, xác lập vị trí của tôn giáo nội sinh như một cấu phần quan trọng trong mạng lưới an sinh xã hội tại Tây Nam Bộ.
- Làm sáng tỏ cơ sở đức tin và phương pháp tu tập của TAHN, TĐCS, PGHH, chứng minh sự tích hợp giữa triết lý Phật giáo ("Tứ đại trọng ân", "Bố thí") với tinh thần tương thân tương ái của cư dân khẩn hoang Nam Bộ là cội nguồn động lực của hoạt động ASXH.
- Đánh giá toàn diện, khách quan thực trạng các mô hình ASXH tiêu biểu (Y tế Phước thiện, Xe chuyển bệnh miễn phí, Bếp ăn tình thương, Hạ tầng giao thông nông thôn) với các số liệu thực chứng cụ thể giai đoạn 1986 - 2018.
- Chỉ ra thẳng thắn các hạn chế nội tại về tính chuyên nghiệp, quản trị tài chính, rủi ro y tế và những bất cập, rào cản thể chế trong quản lý nhà nước đối với hoạt động ASXH của tôn giáo.
- Dự báo hai xu hướng vận động chính và đề xuất hệ thống giải pháp, khuyến nghị chính sách đồng bộ từ cấp Trung ương đến địa phương nhằm phát huy tối đa nguồn lực tôn giáo nội sinh gắn với bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.
- Xác lập bước tiến mới về nhận thức học thuật: chuyển đổi cách nhìn nhận tôn giáo từ chỗ chỉ là hiện tượng ý thức thuần túy sang tiếp cận tôn giáo như một nguồn lực phát triển xã hội to lớn, mở ra các hướng nghiên cứu liên ngành giá trị cho nền khoa học xã hội Việt Nam.