chương 1. 46 CHƯƠNG 2 ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA CỦA PHẬT GIÁO NGƯỜI HOA Ở TP.1 Đặc trưng văn hóa vật thể (tangible culture) .1 Đặc trưng kiến trúc mỹ thuật chùa Hoa.2 Đặc trưng trong hệ thống thờ tự và tượng thờ .3 Đặc trưng trang phục của tu sĩ Phật giáo người Hoa .4 Đặc trưng trong Kinh sách – Pháp khí .2 Đặc trưng văn hóa phi vật thể (intangible culture) .1 Nghi lễ Phật giáo của người Hoa .2 Một số đặc điểm trong nghi thức cúng tại các ngôi chùa Hoa .3 Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa Phật giáo của người Hoa. 77 Tiểu kết chương 2. 82 CHƯƠNG 3 HOẠT ĐỘNG TỪ THIỆN – XÃ HỘI CỦA TĂNG NI PHẬT TỬ NGƯỜI HOA TP.1 Khái quát hoạt động từ thiện - xã hội của Giáo hội Phật giáo Việt Nam tại TP.2 Hoạt động từ thiện - xã hội của Tăng, Ni, Phật tử người Hoa tại TP.1 Giai đoạn trước 1975 .2 Giai đoạn hiện nay .3 Một số vấn đề đặt ra và khuyến nghị trong hoạt động từ thiện - xã hội.
92 Tiểu kết chương 3. 99 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 101 DANH SÁCH PHỤ LỤC. 111 Phụ lục 1 Bản đồ hành chính TP.
112 Phục lục 2 Bản đồ một ngôi chùa của người Hoa ở TP. 113 Phụ lục 3 Danh sách các ngôi chùa của người Hoa ở TP. 114 Phụ lục 4 Ban Chấp hành trung ương Giáo hội Phật giáo Hoa tông Việt Nam, năm 1973. 117 Phụ lục 5 Ban Chấp hành trung ương Giáo hội Phật giáo Hoa tông Việt Nam, năm 1975.
118 Phụ lục 6 Lịch lễ cúng phổ biến tại các chùa của người Hoa ở TP. 119 Phụ lục 7 Danh mục một số kinh, sách được sử dụng tại các chùa của người Hoa ở TP. 120 Phụ lục 8 Lễ vật dâng cúng tại lễ tạ chư Thiên. 122 Phụ lục 9 Các biểu tượng pháp khí được quy ước trong sách “Phật môn tất bị” (佛門必備).
123 Phụ lục 10 Trích biên bản phỏng vấn sâu. 126 Phụ lục 11 Hình ảnh một số chùa của người Hoa ở TP. Tính cấp thiết của đề tài Người Hoa (華人) đã có lịch sử hình thành kéo dài trong nhiều thế kỷ ở Nam Bộ nói chung và ở Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng. Bắt đầu từ khoảng thế kỷ XVII (1679) về sau, người Hoa đã tiến hành nhiều cuộc di cư khác nhau từ lục địa và hải đảo Trung Hoa đến miền Nam Việt Nam.
Nguyên nhân chủ yếu của những người di cư này vào Việt Nam là do kinh tế và chính trị. Thế kỷ XIX, theo mô tả của Trịnh Hoài Đức trong Gia Định thành thông chí (嘉定 城通志), hoàn thành dưới thời vua Gia Long (嘉隆), tại vùng đất Gia Định (嘉定), người Việt sống xen cư với các tộc người thiểu số (mà Trịnh Hoài Đức (鄭懷德) gọi khác với tên tộc người như ngày nay). Ông gọi người Hoa là người Đường. Theo đó “Gia Định là cõi phía Nam nước Việt, khi mới khai thác, thì có lưu dân nước ta cùng Đường nhân (.
Người Tây Dương 1 (các nước như Phú Lãng Sa 2, Hồng Mao 3, Mã Cao 4, đều gọi là Tây Dương), Cao Miên 5, Đồ Bà (phàm giống người ở bể ở núi theo đạo Bái Nhật 6 (lạy mặt trời) ở trong 36 cửa bể Mãn Thích Gia 7, đều gọi là Đồ Bà), những người các nước ấy đến đến kiều ngụ đông đảo chung lộn, mà y phục khí dụng đều theo quốc hóa của họ” (Trịnh Hoài Đức, 1972c, tr. Ở Nam Bộ, đặc biệt là tại TP.HCM, tộc người Hoa chiếm số lượng đông nhất so với cả nước. Trong số gần nửa triệu người Hoa tập trung tại đây được phân chia thành 5 nhóm phương ngữ: Quảng Đông (廣東), Triều Châu (潮州), Hải Nam (海南), Hẹ (客) 8, Phúc Kiến (福建). Dựa trên cơ sở những yếu tố truyền thống, người Hoa đã tiếp tục phát 1 Chỉ người phương Tây.
2 Tức nước Pháp. 3 Tức nước Anh. 4 Tức vùng Macau. 5 Tức nước Campuchia.
6 Tức Hồi giáo. 7 Còn được phiên âm là Mã Lục Giáp tức Malacca. 8 Còn gọi là tiếng Khách Gia (客家). 2 triển những đặc trưng văn hóa, tôn giáo và tín ngưỡng riêng trong quá trình định cư tại Việt Nam.
Hầu hết, nhóm di dân người Hoa theo đạo Phật và tín ngưỡng dân gian chiếm đại đa số. Những điểm định cư ban đầu của các tu sĩ người Hoa quy tụ tại khu vực Chợ Lớn (nay bao gồm các quận 5, quận 6, quận 11) do hội Ngũ Bang (五幫) (thuộc 5 nhóm phương ngữ người Hoa) xây dựng nên như: Miếu Ông Bổn, miếu Quan Âm - Ôn Lăng hội quán…Đây là những nơi sinh hoạt tín ngưỡng, hội họp của người Hoa khi mới đến Gia Định. Họ sống đoàn kết với nhau trong tổ chức dưới hình thức Hội quán, Hội Tương tế, giúp đỡ lẫn nhau khi gặp khó khăn. Và đây chính là những “ngôi chùa” dừng chân cư trú buổi đầu của các Tăng nhân Trung Hoa di cư theo dân chúng, để bắt đầu từ đó tạo dựng cơ sở, lập nên các ngôi chùa mang nét thuần túy Phật giáo, đặt nền tảng cho Phật giáo người Hoa ở Nam bộ ngày nay.
Như vậy, việc tìm hiểu quá trình di cư, hình thành và phát triển cộng đồng người Hoa sẽ góp phần làm rõ lịch sử phát triển của Gia Định – Sài Gòn – TP. Và việc nhận diện Phật giáo của người Hoa cũng giúp chỉ rõ những yếu tố tích cực, tiêu cực đối với sự phát triển chung của Phật giáo TP.Hồ Chí Minh, đóng góp thêm cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc đề xuất quan điểm, giải pháp nhằm phát huy các mặt tích cực, hạn chế các mặt tiêu cực của Phật giáo, góp phần vào mục tiêu phát triển bền vững cho TP. Phật giáo trong cộng đồng người Hoa đã và đang góp phần phát triển và làm phong phú bức tranh văn hóa của TP.HCM, nhưng vấn đề này hiện nay còn bỏ ngõ, chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu. Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là một công trình có hệ thống về quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo vào cộng đồng người Hoa ở TP.HCM, là tài liệu tham khảo có ý nghĩa đối với những ai quan tâm nghiên cứu lịch sử, văn hóa Phật giáo vùng đất Sài Gia Định – Sài Gòn – TP.HCM, về người Hoa ở TP.
Công trình cũng là minh chứng cho luận điểm “văn hóa Việt Nam là văn hóa đa tộc người”, bên cạnh văn hóa của tộc người Việt, còn có văn hóa của người Hoa, góp phần tạo nên bức tranh nhiều màu sắc cho văn hóa Phật giáo TP. 3 Tóm lại, đề tài nghiên cứu Phật giáo của người Hoa tại Thành phố Hồ Chí Minh là cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn. Tổng quan tình hình nghiên cứu Đến nay, các công trình nghiên cứu về những đặc trưng của tộc người cũng như đời sống văn hóa các tộc người ở Việt Nam, trong đó có người Hoa đã được công bố nhiều. Vấn đề phần lớn các tác giả tập trung là về lịch sử di dân, phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội hoặc các hoạt động kinh tế, thương mại, cũng như các vấn đề tổ chức xã hội của người Hoa.
Cũng có một số tác giả nghiên cứu về miếu của người Hoa dưới góc độ Sử học, Khảo cổ học, Văn hóa học hoặc Dân tộc học. Tuy nhiên, ít có công trình nghiên cứu về Phật giáo trong tộc người Hoa, đặc biệt là dưới góc độ Nhân học tôn giáo, thông qua nghiên cứu trường hợp, khảo sát một số ngôi chùa, miếu của người Hoa, để có thể tìm hiểu sâu hơn về đời sống, sinh hoạt của tu sĩ, các hoạt động xã hội của tăng, ni, Phật tử, và cách thờ tự độc đáo trong ngôi chùa Phật giáo của người Hoa, đặc biệt là sự kết hợp giữa tôn giáo và tín ngưỡng dân gian trong Phật giáo người Hoa. Có thể chia những công trình đã công bố có liên quan đến đề tài nghiên cứu thành 2 mảng đề tài: Những công trình đề cập đến người Hoa ở TP.HCM và những công trình đề cập đến Phật giáo của người Hoa ở TP.1 Công trình đề cập đến người Hoa ở TP.HCM Tác giả người Pháp Jean Michel de Kermadec với quyển Aspect Chinois de Cholon et Saigon (Diện mạo của người Hoa ở Chợ Lớn và Sài Gòn), xuất bản năm 1956, mô tả về người Hoa ở Chợ Lớn cùng các ngôi miếu, bao gồm kiến trúc, trang trí, thờ tự và nghi lễ. Đây là nguồn tư liệu ban đầu giúp tác giả hình dung về diện mạo những ngôi miếu Hoa vào những năm đầu thế kỷ XX.
Tsai Maw Kuey (Thái Mẫn Khuê) vào năm 1968 đã bảo vệ luận án Tiến sĩ Les Chinois au Sud Viet Nam (Người Hoa ở miền Nam Việt Nam) bản dịch của Ủy ban nghiên cứu Sử học và Khoa học của Bộ Quốc Gia Giáo dục Sài Gòn. Cũng trong năm 4 1968, Đỗ Văn Anh, Luận án Đại học Sorbonne, Paris. Công trình có đề cập đến người Hoa ở Gia Định – Sài Gòn cùng tín ngưỡng, tôn giáo mà họ tin theo. Nguyễn Văn Huy vào năm 1993 công bố Người Hoa tại Việt Nam, xuất bản tại California, Hoa Kỳ.
Sách về đề cập đến hoạt động của người Hoa ở Nam bộ trong đó có TP. Đây là nhận định của người Việt ở nước ngoài về người Hoa ở Việt Nam, trong đó đề cập đến một số chùa ở TP. Năm1999, Nghị Đoàn viết Người Hoa ở Việt Nam – TP. Đây là công trình xuất bản sau năm 1975 đề cập đến nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội của người Hoa ở TP.
Cùng năm 1999, Xã hội người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh sau năm 1975 của tác giả Mạc Đường được công bố. Công trình sử dụng nhiều số liệu thống kê về dân số của từng nhóm phương ngữ Hoa ở TP.HCM cùng những hoạt động của họ trên mọi lĩnh vực, cho thấy sự biến đổi rõ nét của một tộc người sau ngày giải phóng đất nước. Trần Hồng Liên năm 2002 đã công bố một bài viết công phu Vấn đề nghiên cứu người Hoa ở Nam bộ sau năm 1975 đã điểm qua những công trình đề cập đến người Hoa sau năm 1975 ở Nam bộ, giúp những nhà nghiên cứu về người Hoa có điều kiện thuận lợi nắm lại một cách có hệ thống các công trình đã công bố một cách chi tiết và đầy đủ. Năm 2005, Phan An viết Người Hoa ở Nam bộ, nhưng cũng có đề cập đến vị thiền sư Thanh Thuyền đã khởi công xây dựng chùa Nam Phổ Đà ở Sài Gòn vào năm 1945.