Luận văn đặc điểm ngôn ngữ lời thoại nhân vật trong kịch bản phim điện ảnh Việt Nam

Nghiên cứu ngôn ngữ lời thoại nhân vật phim Việt Nam. Tìm hiểu cách diễn viên sử dụng ngôn ngữ xây dựng tính cách, cảm xúc và mối quan hệ nhân vật.

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2018

152
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về ngôn ngữ lời thoại nhân vật kịch bản phim Việt Nam

Lời thoại nhân vật là yếu tố cốt lõi trong kịch bản phim điện ảnh Việt Nam. Ngôn ngữ lời thoại không chỉ truyền tải nội dung câu chuyện mà còn thể hiện tính cách, tâm lý và mối quan hệ giữa các nhân vật. Nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ lời thoại trong kịch bản phim điện ảnh Việt Nam đã thu hút sự quan tâm của nhiều học giả. Các công trình nghiên cứu tập trung vào phân tích từ vựng, cú pháp và chiến lược giao tiếp trong lời thoại. Phim điện ảnh Việt Nam phản ánh đời sống xã hội đa dạng. Lời thoại nhân vật mang dấu ấn văn hóa đặc trưng. Các yếu tố ngôn ngữ như từ địa phương, từ khẩu ngữ và từ thông tục tạo nên bản sắc riêng cho điện ảnh Việt Nam. Nghiên cứu này khảo sát ba kịch bản phim đã công chiếu trong giai đoạn 2013-2018. Phương pháp phân tích diễn ngôn hội thoại được áp dụng để làm rõ đặc điểm ngôn ngữ lời thoại nhân vật. Kết quả nghiên cứu giúp hiểu sâu hơn về ngôn ngữ điện ảnh Việt Nam. Phát hiện này có giá trị cho nhà biên kịch, đạo diễn và nhà nghiên cứu ngôn ngữ học.

1.1. Khái niệm lời thoại trong kịch bản phim điện ảnh

Lời thoại trong kịch bản phim điện ảnh là toàn bộ lời nói của các nhân vật được biên soạn trước. Lời thoại phục vụ mục đích kể chuyện, thể hiện tính cách và xây dựng kịch tính. Khác với lời thoại sân khấu, lời thoại phim điện ảnh hướng đến sự tự nhiên, phản ánh cách nói chuyện đời thường của con người. Trong kịch bản phim Việt Nam, lời thoại mang đặc trưng văn hóa Việt. Ngôn ngữ giao tiếp thể hiện quan hệ xã hội, tầng lớp và vùng miền. Lời thoại nhân vật bao gồm cả hành vi ngôn từ trực tiếp và gián tiếp. Chiến lược giao tiếp này ảnh hưởng đến cách người xem cảm nhận nhân vật.

1.2. Ngữ liệu khảo sát và phạm vi nghiên cứu

Ngữ liệu khảo sát bao gồm ba kịch bản phim điện ảnh Việt Nam đã công chiếu trong giai đoạn 2013-2018. Ba phim được chọn là Trúng số, Sài Gòn anh yêu em và Mẹ chồng. Trúng số thuộc thể loại hài kịch tình huống. Sài Gòn anh yêu em là phim tình cảm nhiều tuyến nhân vật. Mẹ chồng thuộc thể loại bi kịch gia đình. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào phân tích lời thoại nhân vật chính. Phương pháp định lượng và định tính được kết hợp để thống kê tần suất xuất hiện các đặc trưng ngôn ngữ. Việc lựa chọn ba kịch bản thuộc thể loại khác nhau đảm bảo tính đa dạng ngữ liệu. Điều này giúp phát hiện các đặc điểm ngôn ngữ chung và riêng biệt trong phim điện ảnh Việt Nam.

II. Phân tích đặc điểm từ vựng lời thoại trong kịch bản phim điện ảnh

Từ vựng trong lời thoại nhân vật phim điện ảnh Việt Nam mang nhiều đặc điểm nổi bật. Bốn lớp từ chính được phân tích bao gồm từ khẩu ngữ, từ địa phương, từ thông tục và từ Hán Việt. Từ khẩu ngữ chiếm tỷ lệ cao nhất trong lời thoại phim. Các từ như ủa, dạ, nè, hả xuất hiện thường xuyên. Những từ này tạo nên sự tự nhiên và gần gũi cho lời thoại. Từ địa phương phản ánh xuất xứ và tính cách nhân vật. Phương ngữ Nam Bộ, Bắc Bộ và Trung Bộ được sử dụng tùy theo bối cảnh nhân vật. Từ địa phương giúp phân biệt vùng miền và tạo dấu ấn văn hóa. Từ thông tục xuất hiện nhiều trong lời thoại nhân vật bình dân. Lớp từ này thể hiện đời sống xã hội thực tế. Từ Hán Việt thường xuất hiện trong lời thoại trang trọng. Nhân vật có học thức hoặc địa vị cao sử dụng nhiều từ Hán Việt hơn. Sự phân bổ từ Hán Việt phản ánh tầng lớp xã hội của nhân vật.

2.1. Đặc điểm từ khẩu ngữ và từ địa phương trong lời thoại

Từ khẩu ngữ là lớp từ đặc trưng của lời thoại phim điện ảnh. Các tiểu từ tình thái như nè, hả, à, ơi được sử dụng để tạo ngữ điệu tự nhiên. Tần suất xuất hiện từ khẩu ngữ cao ở cả ba kịch bản khảo sát. Từ địa phương đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng nhân vật. Phương ngữ Nam Bộ xuất hiện nhiều trong phim lấy bối cảnh thành phố Hồ Chí Minh. Phương ngữ Bắc Bộ đặc trưng cho nhân vật gốc Bắc. Sự kết hợp từ khẩu ngữ và từ địa phương tạo nên bản sắc riêng cho lời thoại phim điện ảnh Việt Nam. Yếu tố này giúp nhân vật gần gũi với khán giả đại chúng.

2.2. Đặc điểm từ thông tục và từ Hán Việt trong lời thoại

Từ thông tục xuất hiện nhiều trong lời thoại nhân vật có xuất xứ bình dân. Các từ như thằng, con, mẹ kiếp, chết tiệt thể hiện sắc thái biểu cảm mạnh. Mức độ sử dụng từ thông tục phản ánh tính cách và hoàn cảnh nhân vật. Từ Hán Việt chiếm tỷ lệ thấp hơn so với các lớp từ khác. Tuy nhiên, từ Hán Việt thường xuất hiện trong ngữ cảnh trang trọng. Nhân vật trí thức, luật sư, bác sĩ sử dụng nhiều từ Hán Việt hơn. Sự tương phản giữa từ thông tục và từ Hán Việt trong cùng kịch bản tạo nên hiệu quả nghệ thuật. Nhà biên kịch khai thác sự tương phản này để phân biệt tầng lớp và tính cách nhân vật.

III. Phương pháp phân tích diễn ngôn hội thoại lời thoại phim điện ảnh

Phân tích diễn ngôn hội thoại là phương pháp chính để nghiên cứu lời thoại nhân vật. Phương pháp này tập trung vào cấu trúc lời nói và mối quan hệ giữa các lượt lời. Quan hệ thân sơ giữa các nhân vật được thể hiện qua ngôn ngữ lời thoại. Dấu hiệu bằng lời bao gồm từ nhân xưng và cách xưng hô. Các yếu tố phi lời như cử chỉ, khoảng cách cũng phản ánh quan hệ này. Quan hệ vị thế ảnh hưởng lớn đến cách sử dụng ngôn ngữ. Nhân vật có địa vị cao thường dùng câu mệnh lệnh. Nhân vật thấp hơn sử dụng câu kính ngữ và câu hỏi. Chiến lược giao tiếp trực tiếp và gián tiếp được áp dụng linh hoạt. Nhân vật sử dụng lời nói gián tiếp để giảm áp lực giao tiếp. Chiến lược này đặc biệt rõ trong các tình huống xin giúp đỡ hoặc từ chối. Phương pháp định lượng được sử dụng để thống kê tần suất. Phương pháp định tính giúp phân tích ngữ cảnh và ý nghĩa lời thoại. Sự kết hợp hai phương pháp đảm bảo tính chính xác của nghiên cứu.

3.1. Phân tích quan hệ thân sơ và vị thế qua lời thoại nhân vật

Quan hệ thân sơ được thể hiện rõ qua từ xưng hô trong lời thoại. Cách gọi ông - tôi, anh - em, mày - tao phản ánh mức độ thân thiết. Quan hệ này có thể thay đổi trong quá trình hội thoại. Quan hệ vị thế thể hiện qua sắc thái quyền lực trong lời nói. Nhân vật có vị thế cao sử dụng câu mệnh lệnh và câu trần thuật. Nhân vật thấp hơn dùng câu hỏi và câu cầu khiến. Sự kết hợp quan hệ thân sơ và vị thế tạo nên mạng lưới giao tiếp phức tạp. Nhà biên kịch xây dựng lời thoại dựa trên hai trục quan hệ này. Điều này giúp khắc họa tính cách và mối quan hệ nhân vật một cách chân thực.

3.2. Chiến lược giao tiếp trực tiếp và gián tiếp trong lời thoại

Chiến lược giao tiếp trực tiếp thể hiện rõ ý định của nhân vật. Nhân vật sử dụng câu mệnh lệnh, câu cầu khiến để yêu cầu trực tiếp. Chiến lược này thường xuất hiện giữa các nhân vật có quan hệ thân thiết. Chiến lược giao tiếp gián tiếp phức tạp hơn. Nhân vật sử dụng lời than thở, kể lể để gợi ý mà không trực tiếp yêu cầu. Ví dụ điển hình là cảnh Thằng bé trong phim Trúng số. Chiến lược gián tiếp giúp giảm áp lực giao tiếp cho người nói. Đồng thời, chiến lược này đánh vào lòng thương cảm của người nghe. Người nghe tự nguyện thực hiện hành động mà không bị ép buộc. Nhà biên kịch khai thác chiến lược gián tiếp để tạo kịch tính và thể hiện chiều sâu tâm lý nhân vật.

IV. Kết luận và ứng dụng nghiên cứu lời thoại kịch bản phim điện ảnh

Nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ lời thoại nhân vật trong kịch bản phim điện ảnh Việt Nam mang lại nhiều phát hiện giá trị. Các đặc trưng từ vựng, cú pháp và chiến lược giao tiếp được hệ thống hóa rõ ràng. Kết quả cho thấy lời thoại phim điện ảnh Việt Nam mang bản sắc văn hóa riêng. Từ khẩu ngữ, từ địa phương và từ thông tục tạo nên sự phong phú. Từ Hán Việt bổ sung sắc thái trang trọng cho lời thoại. Phân tích diễn ngôn hội thoại giúp hiểu sâu mối quan hệ nhân vật. Quan hệ thân sơ và vị thế được thể hiện qua ngôn ngữ lời thoại. Chiến lược giao tiếp gián tiếp tạo nên nghệ thuật kể chuyện tinh tế. Nghiên cứu này có giá trị ứng dụng thực tiễn cao. Nhà biên kịch có thể tham khảo để xây dựng lời thoại tự nhiên. Đạo diễn hiểu rõ ngôn ngữ lời thoại để chỉ đạo diễn xuất tốt hơn. Trong tương lai, nghiên cứu có thể mở rộng sang phim truyền hình. Việc so sánh lời thoại phim Việt với phim quốc tế cũng là hướng nghiên cứu tiềm năng.

4.1. Giá trị lý luận và thực tiễn của nghiên cứu lời thoại phim

Về mặt lý luận, nghiên cứu đóng góp vào lĩnh vực phân tích diễn ngôn tiếng Việt. Phương pháp phân tích lời thoại phim được hệ thống hóa rõ ràng. Các tiêu chí đánh giá đặc trưng ngôn ngữ được xây dựng cụ thể. Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu hỗ trợ nhà biên kịch sáng tác. Hiểu biết về đặc điểm ngôn ngữ giúp viết lời thoại tự nhiên và chân thực. Đạo diễn cũng có thể sử dụng kết quả để chỉ đạo diễn viên thoại. Nghiên cứu còn có giá trị trong giảng dạy ngôn ngữ học ứng dụng. Sinh viên ngôn ngữ học và điện ảnh có thể tham khảo phương pháp phân tích. Tài liệu này phục vụ cho quá trình đào tạo chuyên ngành.

4.2. Hướng phát triển và mở rộng nghiên cứu lời thoại điện ảnh

Nghiên cứu có thể mở rộng sang phân tích lời thoại phim truyền hình Việt Nam. Phim truyền hình có số lượng tập lớn, cung cấp ngữ liệu phong phú hơn. So sánh giữa phim điện ảnh và phim truyền hình sẽ cho kết quả thú vị. Hướng nghiên cứu khác là so sánh lời thoại phim Việt với phim quốc tế. Phân tích sự khác biệt ngôn ngữ giúp hiểu rõ bản sắc văn hóa điện ảnh mỗi nước. Nghiên cứu dịch thuật lời thoại cũng là lĩnh vực tiềm năng. Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phân tích lời thoại là hướng mới. Công nghệ xử lý ngôn ngữ tự nhiên có thể hỗ trợ thống kê và phân tích quy mô lớn. Điều này giúp rút ngắn thời gian nghiên cứu và tăng độ chính xác.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Lvtn 2018 đặc điểm ngôn ngữ lời thoại nhân vật trong kịch bản phim điện ảnh việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu KB là một chuỗi các lời ngoài hình là giọng nói của nhân vật Lệ Liễu kể về cuộc đời của mình, giọng nói xuất hiện trên nền hình ảnh của nhân vật Đực với một chuỗi các hành động xảy ra từ lúc Đực 7 tuổi đến lúc 17 tuổi, dưới đây chúng tôi xin dẫn ra hai lời ngoài hình của Lệ Liễu: LỆ LIỄU ( V.O ) Tui ước một ngày nào đó sẽ được dì Thắm cho mặc áo đầm, được trét môi son, được đi hát trong mấy đám cưới trong xóm như con Méng bên nhà cậu ba. Đặc điểm và vai trò của lời thoại nhân vật trong KB phim ❖ Đặc điểm Trong cuốn “Nghệ thuật viết kịch bản điện ảnh” (1996), John W. Bloch William Fadiman & Lois Peyser đã đưa ra những đặc tính, phẩm chất mà một lời thoại cần có trong KB phim như sau: - Lời thoại phải đáng tin cậy, đanh thép nhưng phải rút ngắn đến cái cốt yếu. - Lời thoại cần sát hợp với nhân vật, tính cách nhân vật - Lời thoại phải gần gũi với đời sống - Rõ ràng, tiết kiệm, nhịp điệu, để có thể truyền đạt một cách tốt nhất.[21] ❖ Vai trò Như chúng tôi đã nói ở trên, lời thoại có vai trò nhất định và cần thiết trong KB.

Trong một số công trình, các nhà người cứu đã đưa ra vai trò, nhiệm vụ chủ yếu của lời thoại trong KB phim như sau: 10 Trong cuốn “Cách viết kịch bản phim ngắn” (2006), Jean- Marc RUDNICKI cho rằng thoại được sử dụng để: - Làm nổi bật đặc điểm tính cách của nhân vật (một hoặc nhiều) - Chuyển tải một thông tin và làm tiến triển hành động. Về ngữ liệu khảo sát (3 KB) 1. Trúng số “Trúng số” là bộ phim điện ảnh Việt Nam của đạo diễn Justin Nguyễn, được khởi chiếu toàn quốc từ ngày 12/2/2015. Đây là một bộ phim được giới chuyên môn cũng như khán giả đánh giá khá cao trên nhiều phương diện.

Đặc biệt, đây một bộ phim hội tụ rất nhiều những chi tiết hài hước mang lại tiếng cười cho khán giả nhưng song song với đó là những tình tiết lắng đọng, trầm tư khiến cho người xem phải suy ngẫm rất nhiều. Có thể nói “TS” là một bộ phim hài nhưng không nhảm, bởi nó mang đậm tính nhân văn cao cả và đặt ra một vấn đề hết sức phổ biến trong xã hộị ngày nay- “lòng tốt chạy theo đồng tiền”. Bộ phim đã gặt hái được nhiều thành công lớn: Tác phẩm điện ảnh này đã đạt được ba giải “Cánh Diều Vàng” năm 2015: Phim xuất sắc, Kịch bản xuất sắc cho biên kịch Nguyễn Mạnh Tuấn và Nữ diễn viên chính xuất sắc cho Ninh Dương Lan Ngọc. Bộ phim “TS” nhận được số điểm bình chọn cao nhất của Hội đồng Tuyển chọn tác phẩm đại diện cho Việt Nam tham dự giải thưởng điện ảnh danh giá nhất nước Mỹ - Oscar 2016, hạng mục “Phim nói tiếng nước ngoài xuất sắc”.

Kịch bản phim truyện “TS” do nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn hoàn thành năm 2012, với tên gọi ban đầu là “Người tình trong mơ”. Theo nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, KB “Người tình trong mơ” dựa trên câu chuyện có thật về cô Lành, một người bán vé số tại Long An, đã trả lại 6 tờ vé số độc đắc cho một người đàn ông mặc dù anh này mua thiếu và chưa hề lấy vé gây xôn xao dư luận năm 2011. Sau khi biết được câu chuyện của cô Lành từ báo chí, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn đã tìm đến và gặp cô này, một mặt để xác minh 11 thực hư câu chuyện, một mặt thu thập những thông tin cần thiết để phục vụ cho ý tưởng KB của mình. Kịch bản phim “TS” xoay quanh câu chuyện “người tốt việc tốt”, quan điểm của nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn khi quyết định viết KB này: “Tôi muốn một lần nữa tìm hiểu phản ứng của nhiều người về lòng tốt, sự thật thà, đang hiếm gặp hoặc bị nghi ngờ trong đời sống hiện nay.” [37] Với mong muốn hết sức nhân văn đó, Nguyễn Mạnh Tuấn đã thực sự tạo nên câu chuyện “TS” chạm đến lòng người.

KB “TS” xoay quanh câu chuyện trúng số độc đắc của các nhân vật: vợ chồng Tư Nghĩa, Út Thơm, những người dân quê nghèo khổ, nhưng thật thà chất phác, luôn đối đã tử tế với người khác, và một tư Phi ba xạo, bốc phét, vừa mãn hạn tù. KB này đã đạt được giải Cánh Diều Vàng 2015. Sài Gòn, anh yêu em! “Sài Gòn, anh yêu em !” là bộ phim điện ảnh hài tâm lí xã hội của đạo diễn Lý Minh Thắng, Huỳnh Lập và La Quốc Hùng được khởi chiếu từ ngày 7/10/2016. Phim có thời lượng 98 phút, do CGV phát hành.

Tại Giải Cánh Diều Vàng năm 2017, “SGAYE!” đã đạt được giải Cánh Diều Vàng cho phim điện ảnh xuất sắc, Biên kịch xuất sắc (Ngọc Bích), Âm nhạc xuất sắc (nhạc sĩ Đức Trí), Hoạ sĩ thiết kế xuất sắc (Nguyễn Anh Thao) và Nam diễn viên phụ xuất sắc (Huỳnh Lập). Kịch bản “SGAYE!”là tác phẩm do hai nhà biên kịch Ngọc Bích và Kim đồng sáng tác dựa trên KB ý tưởng của Huyền Trân – Nhật Ánh nói về những con người sống ở Sài Gòn và yêu Sài Gòn, tuy nhiên 80% nội dung “SGAYE!” là hoàn toàn mới. Tên KB “SGAYE!” cũng lấy từ KB ý tưởng này. “SGAYE!” được hai tác giả Ngọc Bích – Kim viết trong vòng 4 tháng và hoàn thành vào tháng 4/2016.

Đây là một kịch đa tuyến, xoay quanh 5 câu chuyện tình cảm, gia đình với 10 nhân vật, mỗi câu chuyện diễn ra hết sức nhẹ nhàng và mang màu sắc riêng giữa lòng Sài Gòn nhộn nhịp. Đó là câu chuyện của Yên Khuê, một phát thanh viên Sài Gòn và chồng nước ngoài đang làm việc tại Việt Nam, cặp đôi Việt Phương và Thiên Kim - cặp tình nhân trẻ, thành công, hai chàng trai 12 đồng tính Đức và Khánh, đôi tình già nghệ sĩ cải lương ông Sáu và bà Ba và hai mẹ con Mỹ Tuyền và Mỹ Mỹ. Mẹ chồng “Mẹ chồng” là bộ phim điện ảnh của đạo diễn Lý Minh Thắng, khởi chiếu từ ngày 1/12/2017. Đây là bộ phim thâm cung nội chiến đầu tiên của Việt Nam trên màn ảnh rộng.

Bộ phim cũng mang tính nhân văn về tình mẫu tử và phản ánh thân phận nhiều bất công và trói buộc của người phụ nữ xưa. “MC” khá ăn khách và được đánh giá cao trong thời điểm phim ra rạp. Kịch bản “MC” do biên kịch Ngọc Bích hợp tác với Kim viết, và hoàn thành vào tháng 12/2016. Theo biên kịch Ngọc Bích,“MC”là một KB được đặt hàng từ nhà sản xuất về chủ đề mâu thuẫn mẹ chồng nàng dâu.

“Mẹ chồng” kể lại câu chuyện bi kịch của gia đình Hội đồng Lịnh, xung đột giữa mẹ chồng nàng dâu từ đời này sang đời khác, gây nên biết bao sóng gió trong gia đình. Để rồi đến cuối cùng phải nhận lấy cái kết bất hạnh. Một số thuật ngữ ngôn ngữ học hữu quan Như đã nói ở trên, trong Khóa luận này chúng tôi sẽ khảo sát, nghiên cứu đề tài dưới góc nhìn phân tích diễn ngôn, vì thế trước tiên chúng tôi xin trình bày sơ lược về lí thuyết phân tích diễn ngôn hội thoại làm cơ sở lí luận cho quá trình thực hiện đề tài này. Sau đó chúng tôi sẽ trình bày về một số vấn đề lí thuyết: từ vựng, cú pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng có liên quan để phục vụ cho việc nghiên cứu, và làm sáng rõ đề tài.

Lí thuyết về phân tích diễn ngôn hội thoại 1. Khái niệm Người đầu tiên đề xuất khái niệm diễn ngôn là Z. Harris trong công trình “Discourse Analysis” – Phân tích diễn ngôn (1952), theo ông thì diễn ngôn được hiểu với tư cách là một văn bản liên kết ở bậc cao hơn câu. Khái niệm này vẫn còn nhiều tranh luận, tuy nhiên Harris đã góp phần quan trọng vào việc thay đổi đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học văn bản từ câu sang diễn ngôn.

13 Roland Barthes (1970) - một nhà lý luận văn học người Pháp trong “La linguistique du discourse” đã định nghĩa: “Diễn ngôn là một đoạn lời nói hữu tận bất kỳ, tạo thành một thể thống nhất xét từ quan điểm nội dung, được truyền đạt với những mục đích giao tiếp thứ cấp, và có một tổ chức nội tại phù hợp với những mục đích này, vả lại (đoạn lời này) gắn bó với những nhân tố khác nữa, ngoài những nhân tố có quan hệ đến bản thân ngôn ngữ”. [Dẫn theo 38] Đối với Teun Adrianus Van Dijk- người có công truyền bá Diễn ngôn trên bình diện thế giới với tác phẩm “Some Aspects of Text Grammars” (1972) thì “Diễn ngôn là sự kiện giao tiếp diễn ra giữa người nói và người nghe (người quan sát…) trong tiến trình hoạt động giao tiếp ở một ngữ cảnh thời gian, không gian, hay những ngữ cảnh khác nào đó. Hoạt động giao tiếp này có thể bằng lời nói, bằng văn viết, những bộ phận hợp thành của nó có thể bằng lời và không lời”.[Dẫn theo 36] Widdowson (1984) đã định nghĩa: “Diễn ngôn là một quá trình giao tiếp. Kết quả về mặt tình huống của quá trình này là sự thay đổi trong sự thể: thông tin được chuyển tải, các ý định được làm rõ, và sản phẩm của quá trình này là văn bản.” [Dẫn theo 10] Còn theo quan điểm của Guy Cook (1989) thì “Diễn ngôn là những chuỗi ngôn ngữ được nhận biết có nghĩa, thống nhất và có mục đích” [Dẫn theo10; 31] Trong khi đó David Nunan cho rằng “diễn ngôn như là một chuỗi ngôn ngữ gồm một số câu, những câu này được nhận biết là có liên quan nhau theo một cách nào đó”.

[8] Ở Việt Nam nghiên cứu về diễn ngôn cũng có rất nhiều quan điểm khác nhau, tiêu biểu như quan điểm của một số nhà Việt ngữ học sau đây: Diệp Quang Ban với công trình “Giao tiếp diễn ngôn và văn bản” đã dẫn ra rất nhiều các quan niệm khác nhau về diễn ngôn của các nhà nghiên cứu trên thế giới. Đặc biệt là các cách hiểu khác nhau về mối quan hệ giữa hai tên gọi diễn 14 ngôn và văn bản trong các giai đoạn nghiên cứu khác nhau. Theo Diệp Quang Ban thì quan điểm của Guy Cook được coi là hợp lí và chặt chẽ nhất, quan niệm này được dùng khá phổ biến trong lĩnh vực nghiên cứu. Ông đưa ra sơ đồ về mối quan hệ giữa diễn ngôn và văn bản như sau: Diễn ngôn Văn bản (Nghĩa logic, chức năng) ( bề mặt từ ngữ) Hình: Văn bản là bề mặt ngôn từ, diễn ngôn thuộc về nghĩa logic và chức năng Nguyễn Thiện Giáp cũng đưa ra quan điểm của mình về diễn ngôn trong tác phẩm “Dụng học Việt ngữ”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ