MỞ ĐẦU 1. Lý do nghiên cứu Cộng đồng người Hoa Hải Nam ở Nam bộ Việt Nam là một trong năm nhóm tộc người Hoa nói các phương ngữ Hoa Nam di cư sang Việt Nam qua nhiều đợt và nhiều lý do khác nhau. Họ mong muốn có được cuộc sống bình an, hạnh phúc, nên đã chủ động hội nhập, trở thành công dân Việt Nam và có nhiều đóng góp quan trọng trong quá trình phát triển xã hội. Trong quá trình cộng cư, ngoài việc lưu giữ văn hóa tín ngưỡng truyền thống, người Hoa Hải Nam tiến hành giao lưu tiếp biến với các cộng đồng khác trên vùng đất Nam bộ để thích ứng và phát triển tốt nhất có thể.
Với một nền văn hóa lâu đời từ cố quốc, trong hành trang lưu dân của mình, NHHN luôn mang theo trong tâm tưởng những vị thần đã gắn bó với họ từ cố quốc, đặc biệt là những vị thần đã giúp đỡ bảo hộ cho họ trong suốt quá trình di dân, định cư, lập nghiệp. Vì vậy, tìm hiểu tín ngưỡng cộng đồng của NHHN ở Nam bộ Việt Nam để hiểu rõ hơn quá trình nỗ lực vươn lên, thỏa hiệp và định hình các tín ngưỡng cộng đồng theo hướng phù hợp nhất; từ đó nhận diện các đặc trưng, giá trị văn hóa của nhóm tộc người này trong quá khứ và hiện tại. Qua đây, người đọc càng hiểu rõ hơn việc bảo lưu văn hóa truyền thống, mối quan hệ, sự giao lưu tiếp biến trong tín ngưỡng dân gian của NHHN với cộng đồng người khác. Góp phần cố kết cộng đồng giữa NHHN với các cộng đồng khác, thấy được sự phong phú, đa dạng của văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập hiện nay.
Từ trước đến nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu về người Hoa công bố trong và ngoài nước, song chủ yếu là nghiên cứu người Hoa nói chung hoặc các nhóm phương ngữ Hoa có số lượng và tầm ảnh hưởng lớn đến quốc gia mà họ cư ngụ, trong khi nghiên cứu về nhóm phương ngữ ít như người Hải Nam, người Hẹ, người Hải Ninh, v. chưa nhiều, gần như còn bỏ ngỏ. Vì nghiên cứu người Hoa nói chung nên chưa thấy được đặc trưng riêng từng nhóm phương ngữ, phần nào đó việc áp dụng chính sách, kế hoạch Nhà nước, xã hội tạo nên điểm chênh nhau, khoảng trống và làm giảm hiệu quả trong thực tiễn. Vì thế, vấn đề nghiên cứu đặc trưng riêng của từng nhóm phương ngữ người Hoa cũng là một vấn đề đáng lưu tâm và có ý nghĩa.
2 Thêm vào đó, các nghiên cứu thuộc khuynh hướng Sinophone Studies (nghiên cứu các nhóm phương ngữ Hoa ngoài Trung Quốc và các nhóm dân tộc thiểu số ở Trung Quốc) do các học giả hải ngoại và các nhà khoa học phương Tây khởi xướng đã và đang hết sức sống động, phong phú. Họ xây dựng nền tảng lý luận cho việc đánh giá các cộng đồng người Hoa bên ngoài Trung Quốc đại lục đã thực sự chuyển mình về tư tưởng nguồn cội và bản sắc văn hóa, đi từ quan niệm “diệp lạc quy căn (lá rụng về cội)” trở thành quan niệm “lạc địa sinh căn (bén rễ đất lành)1” triệt để. Trong bối cảnh ấy, việc nghiên cứu các động thái văn hóa của các nhóm Hoa cụ thể ở các địa phương Việt Nam sẽ có rất nhiều ý nghĩa: một là chỉ bức tranh cụ thể, cập nhật về nhận thức và thể hiện văn hóa các cộng đồng phương ngữ Hoa Việt Nam phục vụ khoa học và quản lý văn hóa, và hai là đối sánh với các động thái văn hóa của các cộng đồng người Hoa Đông Nam Á và Âu - Mỹ - Úc để nhận diện thực trạng và khuynh hướng phát triển bản sắc văn hóa Hoa ở Việt Nam trong bức tranh đa dạng văn hóa người Hoa bên ngoài Trung Quốc hiện nay. Nghiên cứu tín ngưỡng dân gian cộng đồng của nhóm tộc người Hoa Hải Nam sẽ góp phần hiểu được quá trình vận động văn hóa, sự giao lưu tiếp biến và cách gìn giữ sắc thái dân tộc của họ ở Việt Nam; đồng thời sẽ hiểu được những mong muốn, ước vọng của cộng đồng này trong cuộc sống, cũng như mối quan hệ của họ trong đời sống văn hóa, xã hội Việt Nam.
Vì vậy, nghiên cứu sinh mạnh dạn chọn vấn đề: “Tín ngưỡng cộng đồng của người Hoa Hải Nam ở Nam bộ Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu cho luận án tốt nghiệp tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học của mình. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, văn hóa của cộng đồng người Hoa ở Việt Nam vẫn là một trong những đề tài nghiên cứu được nhiều sự quan tâm của các ngành thuộc lĩnh vực khoa học Xã hội, để thấy được đây là một mảng đề tài rất đáng được quan tâm và nghiên cứu. Thế nhưng, đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào mang tính hệ thống nghiên cứu về cộng đồng NHHN cũng như riêng về sự giao lưu tiếp biến, văn hóa tín ngưỡng của họ với các cộng đồng người khác ở Việt Nam. 1 Luận án sử dụng thuật ngữ “lạc địa sinh căn” theo tác giả Nguyễn Ngọc Thơ từ sách Tín ngưỡng Thiên Hậu vùng Tây Nam Bộ (2017), tr.
3 Những bộ sử chính thống của triều Nguyễn cũng cực kỳ ít nói tới NHHN chỉ nhắc đến việc thu thuế của tàu Hải Nam và hầu như không nói đến văn hóa của NHHN. Cụ thể: Trong bộ Đại Nam thực lục: tập I, nói sơ lược việc người Hoa di cư vào nước ta, không nói cụ thể người Hải Nam, tập II chỉ nói đến việc đổi định lệ thuế cảng và lễ cho các thuyền buôn nước ngoài, trong đó có nói đến thuyền phủ Quỳnh Châu, tức Hải Nam; tập VII nói đến sự kiện tham quan nhà Nguyễn giết nhầm 70 - 80 thương buôn ở Quảng Nam ở trang 205. Bộ Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ có nhắc đến việc thu thuế các thuyền buôn Hải Nam đến buôn bán tại các cảng miền Trung và miền Nam tại mục “thuế cửa bể”, quyển 48, tập III. Bộ Đại Nam liệt truyện không nói gì về NHHN.
Hay các công trình nghiên cứu của Lê Quý Đôn như Phủ biên tạp lục, Kiến văn tiểu lục không nói đến Hải Nam, riêng trong Vân Đài loại ngữ có ghi một câu ở trang 154: “Minh sử chép: Từ Quỳnh Nhai đi thuyền, thuận buồm xuôi gió, một ngày một đêm đến Chiêm Thành”. Có thể thấy các thư tịch xưa chỉ viết chung chung về người Hoa mà không đi vào chi tiết từng nhóm phương ngữ. Một vài chi tiết giúp chúng ta xác định được NHHN đã sang Việt Nam buôn bán, làm ăn từ rất sớm. Hơn nữa, ban đầu NHHN qua nước ta vốn là những thương buôn, sống không tập trung nên không được nhà nước quan tâm cho nên bị khuyết trong ghi chép, nghiên cứu.
Đây chính là động lực cho người nghiên cứu, để thấy sự đóng góp của cộng đồng này tại Việt Nam và việc nghiên cứu mặt tín ngưỡng là thành tố để thấy sự xuất hiện và đóng góp của cộng đồng NHHN trong những mối quan hệ với các cộng đồng khác. Từ đó có thể kết hợp các bia ký còn lưu giữ tại các Hội quán Hải Nam để tìm hiểu thêm và nhìn rõ hơn văn hóa của cộng đồng nhóm phương ngữ này qua chiều lịch đại. Kế thừa những thành tựu nghiên cứu khoa học của các học giả đi trước, trong phạm vi tư liệu tìm hiểu được, chúng tôi chia thành ba mảng nội dung sau: (1) Những nghiên cứu liên quan các vấn đề chung về lịch sử, văn hóa người Hoa ở Nam bộ và Việt Nam, (2) Những nghiên cứu liên quan các vấn đề về lịch sử, văn hóa của cộng đồng người Hoa Hải Nam ở Hải Nam - Trung Quốc, (3) Những nghiên cứu liên quan các vấn đề về lịch sử, văn hóa người Hoa Hải Nam ở Việt Nam. Những nghiên cứu liên quan các vấn đề chung về lịch sử, văn hóa người Hoa ở Nam bộ và Việt Nam Nghiên cứu về người Hoa ở Việt Nam, có thể nói đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, tác phẩm, bài viết của các nhà Dân tộc học, Nhân học văn hóa, Lịch sử, Văn hóa, v.
trong và ngoài nước viết về các vấn đề lịch sử di dân, kinh tế và văn hóa. Cộng đồng người Hoa ở Việt Nam bao gồm nhiều nhóm phương ngữ khác nhau (Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu, Hải Nam, Hẹ (Khách Gia), v.), nhưng hầu như các công trình nghiên cứu thường xếp họ với nhau thành một cộng đồng chung, rất hiếm nghiên cứu theo từng nhóm phương ngữ riêng biệt. Vì đây là những nghiên cứu về một tộc người nên các vấn đề nghiên cứu khó có thể phân tách quá rạch ròi cụ thể. Những vấn đề nào được các tác giả quan tâm thì họ sẽ được trình bày kỹ lưỡng, trọng tâm nhưng không thể không nhắc đến những vấn đề liên quan.
- Các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài Nhiều học giả nước ngoài quan tâm, nghiên cứu về người Hoa ở Việt Nam và đã xây dựng nền tảng cơ bản như Chen Ching Ho (1960, 1961, 1962), Tsai Maw Kuey (1968), Lục Đức Dương (1997), Li Tana (1999), Xiaorong Han (2013), Cristophoro Borri (2014), v. đây là các nhà khoa học nước ngoài tiên phong có những công trình nghiên cứu có hệ thống về vấn đề di dân của người Hoa vào Việt Nam, làm sáng tỏ bức tranh di dân của người Trung Hoa từ xưa đến nay và những ảnh hưởng của nó. Với góc nhìn từ các học giả nước ngoài, chắc chắn họ sẽ có những cứ liệu, nhận định, góc nhìn khách quan, khác nhau, giúp cho việc nghiên cứu người Hoa thêm phong phú, đa diện đa chiều, tăng tính thuyết phục. Hồi ký Xứ Đàng Trong năm 1621 của Cristophoro Borri đã mô tả lại một cách chân thực nhất về sản vật, văn hóa của người Việt cũng như những hoạt động của người Hoa ở đây lúc bấy giờ, đặc biệt là các thương nhân từ góc nhìn chủ quan của một người nước ngoài về xã hội Việt Nam thế kỷ XVII.
Công trình Người Hoa ở miền Nam Việt Nam (1968) của Tsai Maw Kuey đã nghiên cứu một số phong tục tập quán, văn hóa xã hội của người Hoa ở Việt Nam nói chung và Nam Bộ nói riêng. Song tác giả chỉ khái lược đời sống tôn giáo, tín ngưỡng của người Hoa ở Nam Bộ, chưa đi sâu nghiên cứu, phân tích hay nói lên những nét đặc trưng văn hóa tín ngưỡng của từng nhóm phương ngữ người Hoa.