Nghĩa văn bản của cặp từ trái nghĩa khi đi thành cặp trong câu nói tiếng Việt - Lê Trần Ngọc Mỹ

Phân tích cặp từ trái nghĩa trong câu tiếng Việt. Khám phá cách những từ đối lập tạo ra ý nghĩa khác nhau và ảnh hưởng đến hiểu nghĩa văn bản.

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2018

255
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghĩa văn bản từ trái nghĩa trong tiếng Việt

Từ trái nghĩa là những từ có nghĩa đối lập, trái ngược nhau nhưng cùng thuộc một trường ngữ nghĩa. Trong tiếng Việt, các cặp từ trái nghĩa như tốt–xấu, cao–thấp, dài–ngắn thường xuất hiện trong giao tiếp hàng ngày. Khi đi thành cặp trong câu nói, các từ trái nghĩa không chỉ mang nghĩa đen đơn thuần mà còn sinh ra nghĩa văn bản đặc biệt. Nghĩa văn bản là loại nghĩa phát sinh từ ngữ cảnh giao tiếp, vượt ra ngoài nghĩa từ điển của từng từ riêng lẻ. Nghiên cứu của Lê Trần Ngọc Mỹ (2018) chỉ ra rằng khi các từ trái nghĩa kết hợp thành cặp trong câu, chúng tạo nên hàm ý phong phú. Hàm ý này không được thể hiện trực tiếp trên bề mặt câu chữ mà đòi hỏi người nghe phải suy luận từ nghĩa hiển ngôn và hoàn cảnh giao tiếp. Đây là hiện tượng ngôn ngữ thú vị, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà ngôn ngữ học Việt Nam từ Đỗ Hữu Châu đến Nguyễn Thị Hoài Nhân.

1.1. Định nghĩa từ trái nghĩa tiếng Việt

Từ trái nghĩa tiếng Việt được định nghĩa từ nhiều góc nhìn khác nhau. Theo Đỗ Hữu Châu (1962), từ trái nghĩa là những từ đối lập, trái ngược nhau về nghĩa dựa trên một nét chung trong trường nghĩa. Góc nhìn nội quan nhấn mạnh bản chất nội tại của nét nghĩa phản ánh trong từ vựng. Góc nhìn ngoại quan tập trung vào mối quan hệ giữa các từ trong hệ thống ngôn ngữ. Nguyễn Văn Tu (1968) bổ sung rằng từ trái nghĩa phải thuộc cùng phạm trù logic. Nguyễn Thị Hoài Nhân (2001) mở rộng định nghĩa, xem xét cả yếu tố ngữ dụng trong giao tiếp thực tế.

1.2. Khái niệm nghĩa văn bản và hàm ý

Nghĩa văn bản là nghĩa sinh ra khi các từ đi thành cặp hoặc xuất hiện trong ngữ cảnh cụ thể, nếu dùng độc lập thì không có nghĩa đó. Hàm ý (implicate) là khái niệm gắn liền với Herbert Paul Grice những năm 1960-1970. Hàm ý là phần nghĩa hàm ẩn không được thể hiện trên bề mặt câu chữ nhưng được suy ra từ nghĩa hiển ngôn và hoàn cảnh giao tiếp. Trong tiếng Việt, các cặp từ trái nghĩa khi đi thành cặp thường mang hàm ý đặc biệt, tạo nên tầng nghĩa sâu cho câu nói.

II. Phân tích chức năng cú pháp của cặp từ trái nghĩa trong câu

Nghiên cứu thống kê ngữ liệu cho thấy các cặp từ trái nghĩa khi đi thành cặp đảm nhiệm nhiều chức năng cú pháp khác nhau trong câu tiếng Việt. Các cặp từ này có thể làm chủ ngữ, vị ngữ hoặc các thành phần phụ trong kết cấu câu. Đặc biệt, cặp từ trái nghĩa thường xuất hiện trong kết cấu so sánh, nơi chúng thể hiện rõ nhất sự đối lập về nghĩa. Khi đảm nhiệm chức vụ thành phần chính, cặp từ trái nghĩa mức độ thể hiện tính chất ở các mức khác nhau như ít–nhiều, hơi–rất. Cặp từ trái nghĩa đối lập loại trừ thể hiện sự loại trừ hoàn toàn giữa hai thái cực. Cặp từ trái nghĩa phương hướng, vị trí như trước–sau, trái–phải diễn tả không gian và thời gian. Ở vị trí thành phần phụ, các cặp từ trái nghĩa thường đóng vai trò định ngữ hoặc bổ ngữ, làm phong phú thêm ý nghĩa của nồng cốt câu. Sự phân bố chức năng cú pháp phản ánh tính linh hoạt của từ trái nghĩa trong hệ thống ngữ pháp tiếng Việt.

2.1. Cặp từ trái nghĩa làm thành phần chính trong câu

Khi đảm nhiệm vai trò thành phần chính, cặp từ trái nghĩa có thể làm chủ ngữ hoặc vị ngữ. Làm chủ ngữ, cặp từ trái nghĩa thường nêu bật sự đối lập tổng quát, ví dụ: Đen trắng không quan trọng, miễn là đẹp. Cặp từ mức độ như ít nhiều thể hiện sự dao động trong khoảng giữa hai cực. Cặp đối lập loại trừ như sống chết nhấn mạnh tính chất hoặc-và-không. Cặp phương hướng như trước sau diễn tả trình tự thời gian. Làm vị ngữ, các cặp từ này thường miêu tả trạng thái đối lập của chủ thể.

2.2. Cặp từ trái nghĩa làm thành phần phụ trong câu

Các cặp từ trái nghĩa cũng xuất hiện với vai trò thành phần phụ, thường là định ngữ hoặc bổ ngữ. Làm định ngữ, chúng bổ sung tính chất đối lập cho danh từ, như trong cụm từ thời tiết nóng lạnh thất thường. Làm bổ ngữ, cặp từ trái nghĩa hoàn thiện ý nghĩa cho động từ hoặc tính từ. Ngoài ra, cặp từ trái nghĩa còn xuất hiện trong nồng cốt câu, đóng vai trò trung tâm trong việc xây dựng ý nghĩa. Sự đa dạng chức năng này cho thấy tính linh hoạt cao của từ trái nghĩa trong cấu trúc cú pháp tiếng Việt hiện đại.

III. Phân loại nghĩa văn bản từ trái nghĩa khi đi thành cặp

Nghĩa văn bản của các cặp từ trái nghĩa trong câu nói tiếng Việt được phân loại dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau. Thứ nhất, phân loại theo chức năng cú pháp: cặp từ trái nghĩa làm chủ ngữ thường mang nghĩa tổng quát, bao trùm; cặp từ làm vị ngữ thường thể hiện trạng thái hoặc tính chất đối lập. Thứ hai, phân loại theo loại nghĩa: nghĩa đen trực tiếp và nghĩa hàm ý gián tiếp. Nhiều cặp từ trái nghĩa khi đi thành cặp không chỉ mang nghĩa đen mà còn chứa đựng hàm ý sâu xa. Thứ ba, phân loại theo mức độ biểu đạt: từ nghĩa đối lập hoàn toàn đến nghĩa tương đối, có mức độ. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng ngữ cảnh giao tiếp đóng vai trò quyết định trong việc xác định nghĩa văn bản cụ thể của từng cặp từ. Người nghe phải kết hợp kiến thức ngôn ngữ với thông tin ngữ cảnh để suy ra hàm ý chính xác. Việc phân loại này giúp hiểu rõ hơn cơ chế hoạt động của từ trái nghĩa trong giao tiếp thực tế.

3.1. Phân loại theo chức năng cú pháp và vị trí trong câu

Căn cứ vào vị trí và chức năng cú pháp, nghĩa văn bản của cặp từ trái nghĩa thay đổi đáng kể. Khi đứng ở vị trí chủ ngữ, cặp từ thường biểu thị phạm vi tổng quát, bao hàm toàn bộ đối tượng. Ở vị trí định ngữ, chúng bổ sung tính chất tương phản cho danh từ trung tâm. Vị trí trạng ngữ thường gắn với nghĩa thời gian hoặc phương thức. Mỗi vị trí cú pháp tạo điều kiện cho việc hình thành các loại hàm ý khác nhau, phản ánh mối quan hệ biện chứng giữa hình thức ngữ pháp và nội dung ngữ nghĩa trong tiếng Việt.

3.2. Phân loại theo loại nghĩa biểu đạt

Nghĩa văn bản của cặp từ trái nghĩa được phân thành hai loại chính. Loại thứ nhất là nghĩa đen trực tiếp, khi cặp từ thể hiện sự đối lập rõ ràng theo nghĩa từ điển. Loại thứ hai là nghĩa hàm ý, khi cặp từ sinh ra ý nghĩa mới không có trong nghĩa riêng lẻ của từng từ. Hàm ý có thể là hàm ý toàn diện (bao trùm cả hai cực đối lập) hoặc hàm ý triệt tiêu (vô hiệu hóa sự đối lập). Ví dụ, câu Đen trắng gì cũng được chứa hàm ý triệt tiêu, nhấn mạnh sự không phân biệt giữa hai cực.

IV. Kết luận và ứng dụng nghiên cứu từ trái nghĩa trong tiếng Việt

Nghiên cứu về nghĩa văn bản của các từ trái nghĩa khi đi thành cặp trong câu nói tiếng Việt mang lại nhiều phát hiện quan trọng. Các cặp từ trái nghĩa không chỉ là công cụ diễn đạt sự đối lập đơn thuần mà còn là phương tiện tạo hàm ý phong phú trong giao tiếp. Kết quả nghiên cứu có giá trị cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn. Về lý luận, nghiên cứu bổ sung hiểu biết về cơ chế hình thành nghĩa văn bản trong tiếng Việt, làm rõ mối quan hệ giữa nghĩa từ vựng và nghĩa ngữ dụng. Về thực tiễn, kết quả áp dụng được trong nhiều lĩnh vực. Trong giảng dạy tiếng Việt, giáo viên có thể sử dụng phát hiện này để hướng dẫn học sinh hiểu sâu hơn về tầng nghĩa trong câu nói. Trong dịch thuật, người dịch cần nhận diện hàm ý của cặp từ trái nghĩa để truyền tải chính xác ý nghĩa. Trong sáng tác văn học, nhà văn khai thác triệt để hiệu quả nghệ thuật của cặp từ trái nghĩa để tạo ấn tượng và chiều sâu cho tác phẩm.

4.1. Giá trị lý luận của nghiên cứu

Nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ bản chất của nghĩa văn bản trong tiếng Việt. Việc phân tích hệ thống chức năng cú pháp và nghĩa của cặp từ trái nghĩa cung cấp cơ sở khoa học cho việc hiểu cơ chế tạo nghĩa trong câu nói. Nghiên cứu cũng khẳng định vai trò quan trọng của ngữ cảnh trong quá trình hình thành và tiếp nhận nghĩa. Đồng thời, kết quả nghiên cứu bổ sung tài liệu quý giá cho ngành ngôn ngữ học Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực ngữ nghĩa học và ngữ dụng học.

4.2. Ứng dụng thực tiễn trong đời sống

Kết quả nghiên cứu có nhiều ứng dụng thiết thực. Trong giáo dục, nội dung nghiên cứu giúp xây dựng phương pháp giảng dạy ngữ nghĩa tiếng Việt hiệu quả hơn. Trong truyền thông và quảng cáo, hiểu biết về hàm ý từ trái nghĩa giúp tạo thông điệp ấn tượng. Trong phân tích văn học, công cụ phân loại nghĩa văn bản hỗ trợ việc khám phá tầng ý nghĩa sâu trong tác phẩm. Ngoài ra, nghiên cứu còn có giá trị trong lĩnh vực xử lý ngôn ngữ tự nhiên và trí tuệ nhân tạo, hỗ trợ phát triển hệ thống hiểu ý nghĩa tiếng Việt.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Lvtn 2018 nghĩa văn bản của các từ trái nghĩa khi đi thành cặp trong câu nói tiếng việt

Trích đoạn nội dung tài liệu

LỜI MỞ ĐẦU Trái nghĩa là một trong những quan hệ ngữ nghĩa có tính phổ quát. Trong Việt ngữ học, có thể thấy, từ trái nghĩa đƣợc xem là đối tƣợng cơ bản cấu thành hệ thống từ vựng tiếng Việt nói chung. Các tác giả đã nghiên cứu từ trái nghĩa trên nhiều phƣơng diện nhƣ ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp. Hầu hết đặc trƣng cốt lõi của chúng đƣợc đặt trong góc nhìn nội quan, tĩnh tại.

Vì vậy, việc mở rộng phạm vi nghiên cứu từ trái nghĩa theo góc nhìn ngoại tại có ý nghĩa thiết thực trong việc bổ sung và hoàn thiện tiến trình nghiên cứu từ trái nghĩa tiếng Việt nói chung. Đề tài Nghĩa văn bản của từ trái nghĩa khi đi thành cặp trong câu nói tiếng Việt bƣớc đầu tìm hiểu khả năng đảm nhận các chức vụ cú pháp và phân loại nghĩa văn bản đƣợc sản sinh thông qua sự đồng xuất hiện của cặp từ trái nghĩa. Do một số hạn chế về năng lực của ngƣời thực hiện nghiên cứu, khóa luận khó tránh khỏi những sai sót và cái nhìn chủ quan. Vì vậy, báo cáo chỉ mang tính đúc kết từ những kết quả khảo sát trong phạm vi ngữ liệu thu thập, không mang tính triệt để.

Bên cạnh đó, chúng tôi hy vọng nhận đƣợc sự góp ý từ phía các thầy cô để có thể hoàn thiện khóa luận một cách tốt nhất. Lý do chọn đề tài Khi các đơn vị ngôn ngữ kết hợp với nhau sẽ tạo ra một loại nghĩa mới. Điển hình nhƣ “nghĩa khái quát” của từ ghép đẳng lập, nghĩa biệt loại của từ ghép chính phụ, nghĩa tăng tiến của các cặp liên từ (càng…càng), nghĩa nhân quả của các cặp liên từ (nếu…thì; vì…nên), nghĩa nhƣợng bộ của các cặp liên từ (dù…nhưng), v. Tƣơng tự các trƣờng hợp trên, khi các từ trái nghĩa đi thành cặp cũng có khả năng tạo ra một loại nghĩa mới.

Đó là nghĩa văn bản biểu thị mối quan hệ đối lập, trái ngƣợc, không tƣơng xứng, v. Những nghĩa văn bản này thƣờng làm cơ sở sản sinh hàm ý của các câu văn, câu thơ, đoạn văn, đoạn thơ, v. Vì vậy, việc nghiên cứu đối nghĩa văn bản của cặp từ trái nghĩa góp phần nghiên cứu nghĩa văn bản của từ ngữ khi sử dụng trong văn bản. Dựa trên các tiền đề về từ vựng học, nhìn chung, hiện tƣợng trái nghĩa là một trong những quan hệ ngữ nghĩa cơ bản trong hệ thống cơ tầng cấu thành đơn vị ngôn ngữ.

Hiểu theo cách chung nhất, từ trái nghĩa là những từ đối lập, trái ngƣợc nhau về nghĩa, ví dụ: cao- thấp, dày- mỏng, trong- ngoài, lên- xuống, trời- đất, vợ- chồng, đục- trong, bồi- lở, xa- gần, yêu- ghét, động- tĩnh, nội- ngoại v. Bắt nguồn từ văn hóa lƣỡng phân, mọi bản thể tồn tại đều có sự thống nhất giữa hai thái cực đối lập, bao gồm cả ngôn ngữ. Vì vậy, trái nghĩa là đặc trƣng phổ quát của phạm trù từ vựng- ngữ nghĩa, thƣờng có quan hệ tiệm cận với hiện tƣợng đồng nghĩa trong ngôn ngữ. Phần lớn, các nghiên cứu trái nghĩa của các nhà Việt ngữ học nói chung chủ yếu xem xét trái nghĩa trong ngôn ngữ.

Cụ thể, các nhà nghiên cứu xác lập tiêu chí trái nghĩa của từ, phân loại từ trái nghĩa và chỉ ra những đặc tính ngữ pháp trong cùng hệ hình. Điển hình nhƣ, về tiêu chí, các từ đƣợc xem là trái nghĩa với nhau khi cùng thuộc một trƣờng từ vựng và có nghĩa trái ngƣợc nhau. Ví dụ: thiếu- thừa là cặp từ trái nghĩa dựa theo mức độ cần phải có, trong đó thiếu: dƣới mức phải có, thừa: trên mức cần phải có [5; 206]. Về ngữ pháp, từ trái nghĩa phải có sự tƣơng xứng trong khả năng kết hợp và 4 đảm nhiệm chức năng ngữ pháp theo trƣờng nghĩa dọc.

Ví dụ: mạnh- yếu là cặp từ trái nghĩa, đều là tính từ và có khả năng kết hợp đồng đẳng ở vị trí đối xứng. Mạnh được, yếu thua (+), mạnh- yếu đều là tính từ làm chủ ngữ trong kết cấu. Mạnh không phải là yếu (-), mạnh làm chủ ngữ, yếu làm vị ngữ, từ đó mạnh- yếu tuy có nghĩa trái ngƣợc nhau nhƣng không đƣợc xem là từ trái nghĩa vì không đồng nhất về đặc tính ngữ pháp. Tuy nhiên, nhìn chung các nhà nghiên cứu chƣa tìm hiểu sâu về các trƣờng hợp trái nghĩa trong lời nói, ví dụ: Trống đánh xuôi, kèn thổi ngược (+).

Trong câu tục ngữ, xuôi- ngược là cặp từ trái nghĩa, đứng sau động từ, đóng vai trò làm bổ ngữ. Ta xét các trƣờng hợp sau. Thứ nhất, nếu phân xuất xuôi- ngược ra khỏi ngữ cảnh, ta có xuôi- ngược là cặp từ trái nghĩa với xuôi: thuận với chiều, hƣớng, trật tự đƣợc coi là thông thƣờng, ngược: trái với chiều, hƣớng, trật tự đƣợc coi là thông thƣờng [5; 179]. Thứ hai, nếu tách tục ngữ thành hai vế câu độc lập trống đánh xuôi và kèn thổi ngược, theo đó trống đánh xuôi (+) diễn tả hành động đánh theo chiều hƣớng thuận, đánh từ trên xuống dƣới mặt trống, kèn thổi ngược (+) diễn tả hành động thổi theo chiều hƣớng nghịch từ ngoài vào trong kèn để tạo ra âm thanh.

Ở đây, hai vế câu diễn tả hai hành động trái ngƣợc nhau. Thứ ba, nếu xem xét hai vế câu trong mối quan hệ tƣơng quan, có thể thấy, hai hành động đối nghịch nhau cùng diễn ra thể hiện sự không nhất quán, không phối hợp nhịp nhàng. Nói cách khác, chúng không chỉ sự trái ngƣợc, đối lập theo nghĩa nguyên bản mà chỉ sự không thống nhất trong quá trình làm việc. Đây là sự biến đổi nghĩa khi các từ trái nghĩa xuất hiện thành cặp trong các câu nói tiếng Việt.

Từ ví dụ trên, đề tài hƣớng đến việc tìm hiểu và nghiên cứu khía cạnh trái nghĩa trong lời nói, nhằm cụ thể hóa nghĩa văn bản của các từ trái nghĩa khi đi thành cặp. 5 Trong đó, nghĩa văn bản là loại nghĩa sinh ra khi dùng các từ trái nghĩa theo cặp. Nghĩa văn bản thƣờng là hàm ý. Đề tài kế thừa những thành tựu nghiên cứu về từ trái nghĩa trên phƣơng diện từ vựng- ngữ nghĩa để làm cơ sở nền tảng trong việc phân tích nghĩa văn bản khi chúng đi thành cặp trong câu nói tiếng Việt, bao gồm các câu nói trong ca dao dân ca, tục ngữ, thành ngữ, thơ, văn xuôi, báo chí.

Đồng thời, việc nghiên cứu cho thấy sự chênh lệch về mặt ngữ nghĩa khi các từ trái nghĩa đi vào quá trình sử dụng trong hoạt động giao tiếp so với phạm vi lý thuyết truyền thống trƣớc đây. Do năng lực của ngƣời nghiên cứu cũng nhƣ phạm vi khảo sát ngữ liệu, đề tài không mang tính tuyệt đối với các kết quả mà chỉ hƣớng đến việc đúc kết những quan sát và tiến hành phân tích đối tƣợng thông qua việc thống kê ngữ liệu, đóng góp một góc nhìn mới về tiến trình nghiên cứu từ trái nghĩa tiếng Việt nói chung. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Vốn là phạm trù phổ quát, việc nghiên cứu từ trái nghĩa là thao tác mô tả cơ bản về mối quan hệ ngữ nghĩa trong các hệ hình ngôn ngữ. Các nhà ngôn ngữ học trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, đã có các công trình nghiên cứu, bài viết về từ trái nghĩa từ những góc nhìn khác nhau.

Hầu hết các tác giả tìm hiểu về bản chất của hiện tƣợng trái nghĩa trong ngôn ngữ trên phƣơng diện quan hệ ngữ nghĩa (sense relations). Đối với các nghiên cứu trên thế giới, điển hình nhƣ John Lyons (1977), Semantics volume 1, Cambridge University Press, cho rằng có sự khu biệt tƣơng đối giữa các thuật ngữ contrast, opposition và antonymy. Theo tác giả, contrast là thuật ngữ chung nhất, bao hàm opposition và antonymy, không bao hàm số lƣợng thành tố trong tập hợp thành tố tƣơng phản theo mô thức. Theo đó, opposition và antonymy có sự tiệm cận với nhau.

Cụ thể, opposition đƣợc sử dụng để mô tả giá trị nhị nguyên, lƣỡng phân, tƣơng phản, 6 trong khi antonymy tập trung hơn vào sự đối lập thang độ, ví dụ: big- small, high- low1, v. Thuật ngữ antonymy xuất hiện vào thế kỷ 19, miêu tả hiện tƣợng trái nghĩa và đƣợc hiểu đối lập với quan hệ đồng nghĩa (synonymy). John Lyons cho rằng, cách hiểu quan hệ trái nghĩa là sự đối lập cực đoan về nghĩa là không phù hợp vì thực chất những ví dụ về quan hệ trái nghĩa đƣợc trích dẫn trong các từ điển hoặc sổ tay ngữ nghĩa có liên quan với nhau2. Trong công trình nghiên cứu, John Lyons đề cập đến hàm ý phủ định trong một đơn vị hình thái có xuất hiện một thành tố trái nghĩa, để phân loại từ trái nghĩa.

Đối với trái nghĩa không có thang độ (ungardable opposites), hàm ý phủ định biểu thị ý nghĩa đối lập, loại trừ giữa các thực thể lƣỡng phân cực. Ví dụ, X is male (+) có hàm ý phủ định X is female (+). Tại vị trí male chỉ có thể thay thế thành tố trái nghĩa duy nhất female. Vì vậy, hàm ý phủ định chỉ đúng đối với những trái nghĩa không có thang độ.

Trong khi đó, đối với trái nghĩa thang độ (gardable antonym), tính chân xác của hàm ý phủ định không những phụ thuộc vào thành tố trái nghĩa xuất hiện mà còn phụ thuộc vào thực thể X tùy thuộc vào quy ƣớc văn hóa của ngƣời bản ngữ. Ví dụ, X is hot (+) có hàm ý phủ định X is not cold (+), tuy nhiên trên thực tế X có thể vừa không nóng vừa không lạnh. 1 John Lyons (1977), Semantics volume 1, Structural semantics II: sense relations, Cambridge University Press, page 279: Contrast will be taken as the most general term, carrying no implications as to the number of elements in the set of paradigmatically contrasting elements. Opposition will be restricted to dichotomous, or binary, contrasts; and antonymy will be restricted still further, to gradable opposites, such as “big”: “small”, “high”: “low”, ect.

2 John Lyons (1977), Semantics volume 1, Structural semantics II: sense relations, Cambridge University Press, page 286: The term “antonymy” was coined in the 19th to the describe a phenomenon, oppositeness of meaning, which was itself conceived as being the opposite of synonymy […]Antonymy (in the broader sense of oppositeness of meaning) has often been thought of as referring to the opposite extreme from identity of meaning: i.e to the maximum degree of diference in meaning. But this is obviously wrong, in so far as most of the examples of antonymy cited in dictionaries and handbooks of semantics are concerned. 7 Nhìn chung, John Lyons chủ yếu đề cập đến bản chất trái nghĩa và sự khu biệt giữa cách định danh các tiểu loại trái nghĩa của các nhà nghiên cứu nhƣ gardable opposites và ungarable opposites, contradictory và contrary, hay antonymy và complementary.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ