Chương 1: TONG QUAN CHUNG VE PHẬT GIÁO NAM TONG VÀ PHẬT GIÁO NAM TÔNG Ở TỈNH VĨNH LONG 1. Khái quát chung về Phật giáo Nam tông 1. Sự hình thành và phát triển của Phật giáo Nam tông Trong hệ thống truyền thừa và phân phái của Phật giáo tại Việt Nam hiện nay. Phật giáo Nam tông là một trong ba hệ phái Phật giáo trực thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam, bên cạnh Phật giáo Bắc tông và Phật giáo Khất sĩ.
Phật giáo Nam tông hay còn được gọi Phật giáo Nguyên thuỷ (Theravada, Trưởng lão), là hệ phái Phật giáo tiếp nhận giáo lý chính thống của các Trưởng lão. Đây là hệ phái dựa trực tiếp vào những lời dạy ban đầu của Đức Phật và có ảnh hưởng lớn, được truyền bá phổ biến tại nhiều nước khu vực châu Á như Campuchia, Thái Lan, Myanma, Lào và Sri Lanka. Ngày nay, Phật giáo Nam tông có hơn 150 triệu Phật tử trên toàn thế giới. Đặc biệt trong vài thập kỷ gần đây, Phật giáo Nam tông bắt đầu bén rễ và truyền bá rộng rãi ở phương Tây.
Phật giáo Nam tông được truyền bá và phát triển ngay sau khi Đức Phật Thích Ca (Gotama) nhập Niết Bàn. Các học giả đều công nhận quá trình truyền thừa là không gián đoạn, thể hiện được đặc tính hài hòa nhưng không biến đổi. Tại bất cứ quốc gia nào Phật giáo Nam tông truyền tới đều vẫn giữ được toàn bộ đặc tính giáo lý căn bản mà không hè bị pha thạp hay đồng hoá, khác biệt. Những người theo Phật giáo Nam tông cũng luôn tuôn thủ khắt khe các giáo pháp và tôn chỉ cũng như giới luật của Phật.
Bởi họ tin tưởng rằng, các giáo luật này đều do Đức Bồn su dé ra, trong đó phương tiện dé hỗ trợ tín đồ thực hành và giữ gìn Pháp chính là giới luật hay giáo pháp (Dhamma - Vinaya). Các pháp vẫn được vận hành và lưu chuyển do các Tăng đoàn Tỳ khưu hoằng truyền. Từ thời Đức Phật, các giáo đoàn Tăng đã được thành lập và phát triển cho tới tận ngày nay. Đối với Phật giáo Nam tông, ngôn ngữ sử dụng chung trong kinh điển ở mọi quốc gia dé tụng đọc chính là tiếng Pali kết hợp với bản ngữ.
Tăng, Ni, cũng rất chú trọng đến phương pháp tu tập theo thánh điển Pali: Tam y và Bình bát được coi là tài sản quan trọng của người xuất gia. Quy định về tiêu thực nghĩa là ngày ăn một bữa và không phi thời, tức quá ngọ. Sau khi Duc Phat Thích Ca Mau Ni nhập Niét ban khoang 100 nam, cac Tăng đoàn nay sinh nhiều cách hiểu khác nhau về giáo lý dẫn đến sự phân chia thành hai nhóm tại hai nơi Thành Vesali và Thanh Vajji. Ngài Yassa Kakannakaputta làm chủ trì, Đại Trưởng Lão Revata van, Dai Trưởng Lão Sabbakami giải đáp với sự tham gia của hơn 700 vi A la hán để bàn về những vấn đề thống nhất giới luật và giáo lý của Phật.
Trong cuộc họp này, tất cả những người theo Ngài đều thống nhất giữ nguyên giới luật của Phật. Ngược lai, tại thành Vajji do Đại đức Vajjiputta trụ trì đã cổ suý cho tư tưởng canh tân, đồng ý thay đổi 10 điều luật bị cam do Phật chế định thời còn tại thế. Điều này đưa đến sư ra đời của Thượng toạ bộ và Đại chúng bộ, còn được gọi là Đại thừa và Tiểu thừa. Thượng toạ bộ cũng được gọi là Phật giáo nguyên thuỷ (Theravada) hay Phật giáo Nam tông, Nam truyền, nghĩa là nhánh Phật giáo thuộc phía Nam An và được truyền bá, phát triển tại các quốc gia Nam Á.
Tới thé ky III, trước Công nguyên, dưới thời của vua Dhamma Asoka với nhiều chủ trương và chính sách tạo điều kiện cho Phật giáo phát triển và truyền bá rộng, vượt ra khỏi phạm vi An Độ, đây cũng là thời kỳ hoàng kim của (Theravada). Có tất cả chín phái đoàn truyền giáo được nhà vua và trưởng lão cử đi đến các quốc gia lân cận để hoằng pháp. Chính nhờ vậy, Phật giáo Nam tông đã có sự phát triển mạnh mẽ tại nhiều quốc gia Đông Nam Châu Á, Châu Á, Sri Lanka. Như vậy, Phật giáo Nam tông là một trường phái Phật giáo do Ngài Mục Kiền Liên Tử Đế Tu Moggaliputta-tissa thành lập.
Năm 250 trước công nguyên, được đưa về Tích Lan (Sri Lanka ngày nay) bởi vị cao tăng Ma Hin Đà (con trai vua A Dục). Phật giáo Nam tông so với các trường phái Phat giáo hiện nay, cũng là nhánh Phật giáo lâu đời nhất và gần nhất với Phật giáo Nguyên thuỷ thời Đức Phật sáng lập. Phật giáo Nam tông tồn tại ngày nay ở Sri Lanka, Lào, Thái Lan, Campuchia và Myanmar, nhưng Sri Lanka vẫn là quê hương của trường phái Phật giáo này. Giáo lý, giáo luật, lễ nghỉ của Phật giáo Nam tông a.
Giáo lý cơ bản của Phật giáo Nam tông Về giáo lý của Phật giáo Nam tông, thể hiện những nét dung dị, chất phác và đơn giản nhưng vô cùng sâu sắc. Đức Phật không thảo luận vòng vo về hình nhi thượng, tất cả chỉ nhằm trình bày những kinh nghiệm về lý tính: Duc Phat dạy người ta con đường giải thoát thực tiễn. Đó là những lời day thé hiện chân lý sống động và chân thực, hướng con người đến lý tưởng giải thoát, là phương tiện giúp chúng sinh thoát mê, khai ngộ và có được một đời sống an lành, chân thực và trong sáng. Tứ Diệu Đề và Bát Chánh Đạo cũng chính là những điều cụ thé hoá lời dạy của Đức Bồn sư.
Điểm đặc biệt của giáo lý này, đức Phật cũng đề cập đến cho con người phương pháp thiền tập, thực hành Tứ Niệm Xứ. Đây là phương pháp giúp chúng sinh tự mình tu tập cho chính mình để đạt được sự giác ngộ, được sự thuần nhất chân tâm và hướng về Niết ban dé đạt được đời sống an lạc, hạnh phúc. Trong giáo lý của Phật giáo Nam tông, có thé khái quát một số đặc điểm như sau: Thứ nhất, trong quan niệm giáo lý của Phật giáo Nam tông, ở tất cả mười phương của vũ trụ thì chỉ có một vị Phật - Ngài Thích Ca Mâu Ni với ánh hào 10 quang và soi chiếu thế gian, dẫn dat chúng sinh qua bờ mê dé đến bờ bến giác. Những vị Phật hoàn hảo lần lượt xuất hiện với mục đích giáo hóa giúp chúng sinh trong vũ trụ tự giải thoát.
Thứ hai, lời dạy của Đức Phật là gần gũi với thé gian, thể hiện tinh than nhân văn, vị nhân sinh sâu sắc. Đức Phật không phải là một vị thần, mà là con người hoàn toàn bằng da, thịt, giàu lòng nhân ái và Đắng có lòng yêu thương nhân loại vô bờ bến. Thứ ba, tất cả chúng sinh có thể đạt được giải thoát và giác ngộ thông qua ba con đường khác nhau: Con đường giúp một người trở thành một savaka (bậc thánh thinh văn) băng cách lắng nghe những lời dạy của một vị Phật hoàn hảo. Con đường giúp hành giả đạt được quả vị Phật bằng chính sự tinh tan của mình.
Con đường giúp hành gia đạt được Phật quả là đi theo con đường của Duc Phật. Giáo ly trọng tâm của Phật giáo Nam tông là Tứ đề, Duyên khởi, Vô ngã và Niết bàn. Tứ dé là lời day căn bản về bốn sự thật (khổ, tập, diệt, đạo). Giáo lý này được xem như là một công thức được áp dụng cho tất cả mọi vật được nhận thức.
Nó được xem như là một công thức, mà không phải là giáo lý mang tính tôn giáo đơn thuần. Công thức này được hiểu như sau: thực chất của các pháp (Dukkha-khé), nguyên nhân phát sinh các pháp (samudaya), sự diệt trừ chúng (nirodha), phương pháp diệt trừ chúng (magga). Tứ dé có thé so sánh với y khoa: bệnh, nguyên nhân của bệnh, sự diệt trừ cặc bệnh, và phương pháp chữa bệnh. Các nhà Phật học Abhidhammna về sau phân tích Tứ dé thành hai nhóm: Nhân và quả thế gian và xuất thế gian.
Khổ và tập thuộc về thế gian (luân hồi khổ đau là quả, nguyên nhân của nó là nhân); Diệt và đạo thuộc về Niết-bàn (Niết-bàn là qua, dao dé là nhân). 11 Duyên khởi giải thích sự tồn tại của con người và thế giới. Công thức nhân quả nói rằng các pháp có điều kiện được xác định bởi các nguyên nhân và điều kiện và do đó không có tự ngã hay thực thể. Tư tưởng chủ đạo trong toàn bộ hệ thống giáo lý nhà Phật chính là Duyên khởi.
Lý Duyên khởi thê hiện con đường nhân quả của các hiện tượng, sự vật trong đời sống con người. Tất cả chúng sanh hữu tình đều phải trải qua giai đoạn Sinh, tiến, dị, diệt, (thành, trụ, hoại, không) không ai tránh khỏi định luật của vô thường, khổ não và vô ngã. Theo nguyên tắc tương đối tính và điều kiện tính, sự xuất hiện, tồn tại và hoại diệt của mọi hiện hữu được diễn giải trong một công thức mang tính phổ biến trong Phật giáo gọi là Thập nhị nhân duyên: Vô minh. Đây là quá trình của mọi sự sống phát sinh, tồn tại và tiếp diễn.
Nếu công thức này bị đảo ngược, chúng ta sẽ đi đến sự chấm dứt của quá trình. Trong mười hai nhân duyên gồm các chi phần, mỗi chi phần có mối quan hệ vừa là nhân, vừa là quả của nhau. Nó là yếu tố bị định bởi (paticcasamupppanna), và đồng thời làm điều kiện cho (paticcasamuppada). Các chi phan này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, phụ thuộc lẫn nhau, không tách biệt và tương đối.
Từ đây, nguyên nhân đầu tiên không có lý do dé tồn tại. Vì vậy, theo luật duyên khởi, ý niệm về một ban thé thường hang bắt biến ở bên trong hay bên ngoài một con người, cho đù được hiểu theo cách nào: linh hồn, tôi, ngã, atta,. là một niềm tin sai lầm về hạnh phúc, là cái bóng của tinh than. Do vậy, có một sự liên hệ mật thiết giữa Duyên khởi và vô ngã trong đạo Phật.
Con người muốn tự bảo vệ mình, nên lập Thượng Đề để nương nhờ Thượng Dé che chở và cung cấp sự anh minh, giống như con cái nương tựa vào cha mẹ. Vì lòng tự trọng, con người đã tạo ra ý tưởng về một linh hồn bat tử. Trong quan niệm của Phật giáo Nam tông, linh hồn vốn không tôn tại như trong quan điểm của nhiều tôn giáo khác. Theo Phật giáo 12 Nam tông, ngã kiến là những niềm tin sai lầm không phù hợp với thực tế, những tư tưởng, dục vọng về cái “tôi” và cái “tôi”, ích kỷ, sân hận, chấp thủ, ác tâm, kiêu căng, ngã mạn.
là nguồn gốc của mọi khó khăn. Từ mâu thuẫn cá nhân đến chiến tranh giữa các quốc gia.