CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU KỸ NĂNG ỨNG PHÓ VỚI STRESS CỦA CƯ SĨ PHẬT TỬ 1. NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI VỀ KỸ NĂNG ỨNG PHÓ VỚI STRESS 1. Nghiên cứu về stress Stress không phải là một căn bệnh mới mẻ, nó thật sự có mặt từ thuở sơ khai của loài người. Trước sức mạnh kì bí của thiên nhiên, thần linh và sự chuyên chế vua chúa thời đại.
Con người phải luôn đối đầu, vật vã để tồn tại, nên có những lúc ở trong tình trạng lo sợ, căng thẳng, dù rằng nó không được gọi tên stress như bây giờ. Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, Nghiên cứu sinh tập trung điểm qua tình hình nghiên cứu stress theo quan điểm tâm lí học. Hướng nghiên cứu stress trong Tâm lý học Kế thừa những nghiên cứu về stress theo quan điểm sinh lý học và y học, ngày nay stress được nghiên cứu chuyên sâu về mặt tâm lý học, bởi đây là một thách thức lớn lao trong khoa học vì mục đích phục vụ con người. Khuôn mặt tiêu biểu đầu tiên là Adolf Meyer với “Ý nghĩa chung của tâm thần học” đã được ông phát triển trong thế giới khoa học bằng biểu đồ đời sống (life chart) làm công cụ chẩn đoán trong y khoa [26].
Chính những nghiên cứu này đã định hướng cho sự phát triển của những biến cố trong cuộc sống với stress.Meyer đã xây dựng một thư mục các biến cố đời sống như: Thành công, thất bại, sinh tử,. trong gia đình. Ông là người đi đầu trong việc đưa ra giả thuyết về mối liên hệ giữa biến cố đời sống và bệnh tật. Kế thừa kết quả nghiên cứu của A.Meyer, hai nhà nghiên cứu Hoa Kỳ là TH.
Rahe với các cộng sự (1967) đã xây dựng “thang sự kiện cuộc sống” (Life Events Scale) [28, tr.432] gồm 43 biến cố của đời sống về gia đình, cá nhân, việc làm và tài chính. Mỗi sự việc đều được ấn định một số điểm cố định. Holmes và Rahe đã lập ra tiêu chuẩn chỉ dẫn và bảng liệt kê [28]. + 0 - 150 điểm sẽ có bệnh tiêu hao 10% sức khỏe trong vòng hai năm tới; + 150 - 300 điểm sẽ có bệnh tiêu hao 50% sức khỏe trong vòng hai năm tới; + 300 điểm trở lên sẽ có bệnh nguy hiểm, tiêu hao 90% sức khỏe trong hai năm tới.
Đây là nghiên cứu được lấy mẫu 394 người từ nhiều quốc gia khác nhau, được chia làm 15 cặp của các nhóm đối nghịch nhau về: kinh tế, xã hội, tôn giáo, … trong đó 88 người được thường xuyên theo dõi trong 10 năm. Kết quả cho thấy, 93% bệnh tật gắn liền với biến cố trong đời sống xảy ra trong 2 năm [28, tr. 6 luan an Sau đó công trình này được thử nghiệm với nhiều cách khác nhau bởi Wyler, Masuda và Holmes (1974) và đi đến kết luận: Những biến cố trong đời sống liên quan đến nguyên nhân xảy ra bệnh tật, thời điểm xuất hiện và mức độ trầm trọng của nó [28, tr. Mặc dù vậy, thang đo này vẫn khó thích hợp với một nhóm dân cư đặc biệt và không kể đến sự khác biệt nhân cách trong ứng phó với stress.
Thomae (1970) và Falger (1980), đã nhấn mạnh: nghiên cứu stress, yếu tố chủ quan là yếu tố quan trọng quyết định phản ứng của chủ thể với stress. Đồng với quan điểm này năm 1984, R.Lazarus và Folkaman cùng nhiều nhà nghiên cứu khác đã nhấn mạnh đến yếu tố chủ quan mà chủ thể cảm nhận căng thẳng và những phương tiện để đương đầu với stress [28, tr. Tình huống gây stress Chủ thể Đánh giá tình huống Tình huống đe dọa Tình huống không đe dọa Không thể đối phó Có thể đối phó Phản ứng stress bệnh lý Phản ứng stress thích nghi Sơ đồ 1. Phản ứng stress theo Lazarus Từ những dữ liệu trên cho thấy, stress được nghiên cứu dưới góc độ tâm lý học từ thế kỉ 20.
Chính sự nghiên cứu chuyên biệt đó dẫn đến sự ra đời Tâm lý học về stress.Kitaepxmux đã thống kê các sách báo khoa học nghiên cứu stress bằng tiếng Anh và tiếng Đức từ năm 1976 - 1980 có trên 1000 tài liệu được công bố [34, tr. 7 luan an Sau đây là những xu hướng nghiên cứu chính đã được công bố: - Nghiên cứu nội hàm khái niệm stress dưới góc độ tâm lý học: Gatchel & Baum (1983), R.S Lazarus and Folkman (1984), S. Palmer (1999), Mc Grath, Robert S. Feldman (1997), Stephen Worchel và Wayne Shebilsue.
- Nghiên cứu stress tâm lý: bao gồm những biểu hiện, những ảnh hưởng tâm lý khi bị stress, những phương pháp, liệu pháp giải tỏa stress, cách phòng ngừa stress về mặt tâm lý,… điển hình như một số nghiên cứu của Weiss (1972), Lagone (1981) [18]. - Nghiên cứu thích ứng tâm lý với stress: nhận biết nguyên nhân gây stress, tương quan kiểu nhân cách và sự thích ứng stress, ảnh hưởng của cảm xúc và quá trình nhận thức đến stress,… của các tác giả Fleming, Baum & Singer (1984), Paterson &Neufeld (1987), Lazaus &Cohen (1977), Folkman (1984), Rodin (1986), … [56]. - Nghiên cứu những cách ứng phó (coping) đương đầu với stress: Folkman &Lazarus (1980), Adwin & Revenon (1987), Compas (1987), Brody & Summerson (1988) [59]. - Nghiên cứu stress với tâm lý học sức khỏe, bệnh tật và những rối loạn tâm lý, tâm lý học thần kinh,.
Nghiên cứu về ứng phó với stress Vào những năm 50 của thế kỉ XX, nhà Tâm lý học Karen Horney theo trường phái Phân tâm học đã đề cập đến khái niệm ứng phó với khó khăn tâm lý. Tuy nhiên, cho đến năm 1966 từ sau nghiên cứu của Lazarus, ứng phó mới trở thành đối tượng nghiên cứu của Tâm lý học hiện đại và tạo nên “một cuộc cách mạng về nhận thức” của Tâm lý học hiện đại [71]. Trong quá trình nghiên cứu, tổng hợp và phân tích tài liệu, chúng tôi đã thống kê các cách tiếp cận về ứng phó theo các hướng sau: - Khuynh hướng nghiên cứu thứ nhất là Cách đo hành vi ứng phó Cách đo hành vi ứng phó ở mức độ tổng thể (kiểu ứng phó - coping styles) hay mức độ cụ thể (Chiến lược ứng phó - copying strategies). Hướng nghiên cứu mới này được sự ủng hộ của các tác giả khi đồng bộ hai cấp độ tổng thể và cụ thể của hành vi ứng phó (Garcia & cộng sự, 2007).
- Khuynh hướng nghiên cứu thứ hai là phát triển các thang đo (Scale) và bảng kiểm (inventory) đánh giá hành vi ứng phó. Đây là khuynh hướng nghiên cứu rất thiết thực và có giá trị thực tiễn cao. Trắc nghiệm cách ứng phó (Way of coping) của Folkman và Lazarus (1980). Trắc nghiệm này các tác giả đo hai kiểu ứng phó cơ bản nhất là: 8 luan an 1.
Kiểu ứng phó tập trung cảm xúc. Đây là kiểu ứng phó tập trung vào cảm xúc của cá nhân, nhằm mục đích làm giảm sự căng thẳng trong các hoàn cảnh mà con người mắc phải. Kiểu ứng phó tập trung giải quyết vấn đề. Kiểu ứng phó này định hướng vào việc giải quyết vấn đề nhằm thay đổi hoàn cảnh.
Thang đo ACS (Adolescent Coping Scale) của Frydenberg và Lewis (1993), bao gồm 18 loại ứng phó được nhóm lại trong 3 nhóm ứng phó cơ bản: Giải quyết vấn đề, Tìm kiếm sự hỗ trợ xã hội và các kiểu ứng phó không hiệu quả. Trắc nghiệm COPE của Carver, Sheier và Weintraub (1989), đã nêu lên hai kiểu ứng phó tổng hợp nhất là: Ứng phó tập trung cảm xúc và Ứng phó tập trung vấn đề không hữu ích. Thang đo các ứng phó của trẻ vị thành niên - ACS (the Adolescent Coping Scale) của Frydenberg và Lewis (1993). Bao gồm 18 loại ứng phó được nhóm thành 3 loại ứng phó: Giải quyết vấn đề, Tìm kiếm sự hỗ trợ xã hội và các kiểu ứng phó không hiệu quả [1], [24], [25].
Thang đo cách ứng phó với stress của các tác giả Garcia, Franco và Martinet (2007). Trong thang đo này, các tác giả đã đề xuất 8 cách ứng phó với stress: Giải quyết vấn đề; Bộc lộ cảm xúc; Niềm tin; Tìm kiếm chỗ dựa xã hội; Cấu trúc lại nhận thức; Lảng tránh vấn đề; Mơ tưởng; Đổ lỗi cho bản thân và Cô lập bản thân [84]. - Khuynh hướng nghiên cứu thứ ba khá phổ biến khi nghiên cứu ảnh hưởng của KNƯP đến thể chất và tinh thần. Nezu và Roma (1988), nghiên cứu KN ứng phó của trẻ vị thành niên.
Theo khuynh hướng này, họ chỉ ra rằng, nếu vị thành niên ứng phó trước những khó khăn của hoàn cảnh, môi trường bên ngoài ở mức âm tính thì có thể dẫn đến stress, trầm cảm và lo âu. Chính vì vậy, để giải quyết được các vấn đề đó, vị thành niên cần có niềm tin dựa vào năng lực của bản thân, để đối diện và xử lý trước những khó khăn xảy ra trong cuộc đời của mình [1], [24]. Kovacs (1989) lại cho rằng, KN xã hội có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của trẻ. Theo ông, những trẻ có KN xã hội tốt sẽ biết đương đầu trước những nghịch cảnh của cuộc sống.
Ngược lại, những trẻ không có KN xã hội hoặc KN xã hội kém chính là nguyên nhân dẫn đến những hành vi và ý tưởng tự sát cao [1], [24]. Các tác giả Carver, Scheiner và Weintraub (1989) thì cho rằng, hành vi ứng phó có tính chất ổn định và được coi là xu hướng ứng xử. Theo các tác giả, con người có cách ứng phó nhất định trong nhiều tình huống khác nhau. Cách ứng phó của cá nhân ảnh hưởng đến chính cá nhân đó [1], [54].
- Khuynh hướng nghiên cứu thứ tư đó là nghiên cứu ảnh hưởng của các vấn đề tâm lý cá nhân và xã hội đến hành vi ứng phó và cách ứng phó. Các tác giả điều nhấn mạnh sự ủng hộ của xã hội là nhân tố trung gian thúc đẩy sự tự tin của con người, khích lệ con người thực hiện những hành động hiệu quả trong những tình huống khó khăn [1], [12], [54]. - Khuynh hướng nghiên cứu thứ năm, là nghiên cứu hành vi ứng phó xuyên văn hóa. Các nghiên cứu này thường so sánh sự khác nhau giữa các dân tộc trong việc ứng phó.
Sự khác nhau này được lý giải trong mối tương quan với các đặc điểm dân tộc tính, các đặc điểm về kinh tế, văn hóa và xã hội (Naughton, 1997). Kết quả nghiên cứu theo khuynh hướng này thường cho thấy người phương Tây thường sử dụng các chiến lược ứng phó tập trung vào vấn đề (problem- focused), trong khi đó, người phương đông lại thường sử dụng các chiến lược ứng phó tập trung vào cảm xúc (emotion- focused) (Olah, 1995; O’connor và Shimizu, 2002) [99, tr. - Khuynh hướng nghiên cứu thứ sáu, là nghiên cứu về ứng phó dưới dạng các dự án.