Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Mục đích nghiên cứu Mối quan tâm đến tâm thần phân liệt đã tồn tại hơn 50 năm nhưng đến hiện nay nó vẫn còn trăn trở và mang tính thời sự. Đặc biệt là khi vấn đề chăm sóc bệnh nhân tâm thần phân liệt là một trong những vấn đề mang tính chất cốt lõi để bệnh nhân sớm tái hòa nhập cộng đồng. Cộng với tình hình dịch bệnh, chiến tranh căng thẳng, áp lực của người chăm sóc ngày càng tăng cao.
Họ đòi hỏi phải cố gắng và nỗ lực hơn nữa để thích nghi. Sức khỏe tâm lý của người chăm sóc cần được quan tâm hơn nữa để hỗ trợ cùng với nhân viên y tế chăm sóc và điều trị cho bệnh nhân hiệu quả nhất. Trong bối cảnh Việt Nam nói chung và địa bàn Bến Tre nói riêng, chưa có nghiên cứu cụ thể về sức khỏe tâm lý cũng như ý nghĩa sống của người chăm sóc bệnh nhân nói chung và bệnh nhân tâm thần phân liệt nói riêng. Đồng thời, khi xác định được mối liên hệ giữa ý nghĩa sống và sức khỏe tâm lý, thì chúng ta có thể đưa ra những giải pháp hoặc thực hiện những nghiên cứu xây dựng giải pháp nâng cao ý nghĩa sống từ bên trong cho người chăm sóc để nâng cao chất lượng điều trị bệnh nhân tâm thần phân liệt.
Với lý do trên thì đề tài “Mối liên hệ giữa ý nghĩa sống và sức khỏe tâm lý người chăm sóc bệnh nhân tâm thần phân liệt tại Bệnh viện tâm thần tỉnh Bến Tre” được chọn để thực hiện. Ý nghĩa sống (Meaning of Life) Ý nghĩa sống là gì? Đó có lẽ là câu hỏi quan trọng nhất từng được đặt ra và dai dẳng theo thời gian. Sự vật vã của con người với các câu hỏi hiện sinh từ lâu đã được thể 5 hiện trong các biên niên sử triết học, tôn giáo và văn học. Ý nghĩa sống được biết đến phổ biến với hai khái niệm tiếng Anh đó là “Meaning of life”, được hiểu như là ý nghĩa của đời sống, mục đích của tồn tại (Wong, 2012).
Khái niệm này mang tính tổng thể, có nhiều định nghĩa theo các trường phái triết học, tôn giáo, các nền văn hoá khác nhau và cho đến nay vẫn chưa thống nhất (Glaw và cộng sự, 2017). Trong khi đó, Frankl (1959) cho rằng mọi người đều có sứ mạng riêng và thay vì hỏi ý nghĩa của cuộc sống là gì thì hãy tự hỏi rằng ý nghĩa của cuộc đời mình là gì? Frankl cũng được biết đến là một trong những người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “Meaning in life” trong tác phẩm “Đi tìm lẽ sống” của mình (Glaw và cộng sự, 2017). Ông đã khái niệm hóa ý nghĩa như là trải nghiệm nhằm đáp lại những yêu cầu của đời sống, khám phá và cam kết thực hiện nhiệm vụ cuộc sống độc nhất của mình, cho phép bản thân trải nghiệm hoặc tin tưởng vào một ý nghĩa tối hậu, và thái độ đối với những gì xảy ra với mình là nguồn gốc ý nghĩa sống của chúng ta (Frankl, 2020). Do đó khái niệm ý nghĩa sống trong phạm vi nghiên cứu này sẽ sử dụng thuật ngữ “Meaning in life” theo quan điểm của Viktor Frankl để soi chiếu cho những khám phá.
Theo Wong (2011), ý nghĩa sống được tích lũy và xây dựng dựa trên lịch sử cá nhân, văn hóa, ngôn ngữ và các mối liên hệ. Đồng thời, Bhattacharya (2011) phát hiện rằng còn có sự đóng góp của niềm tin vào giá trị bản thân và trách nhiệm xã hội trong việc tích lũy và xây dựng ý nghĩa. Việc tìm kiếm ý nghĩa được coi là động lực chính của con người, con người về cơ bản cần có một quan niệm rõ ràng về mục đích của chính sự tồn tại và hơn thế nữa, họ cần hành động phù hợp với nhận thức này (Frankl, 2020). Steger và cộng sự (2006) cho rằng ý nghĩa bao gồm hai khía cạnh riêng biệt: sự kết nối và 6 mục đích.
Sự kết nối đề cập đến cách chúng ta hiểu cuộc sống của mình, trong khi mục đích liên quan đến các mục tiêu mà chúng ta có cho cuộc sống của mình. Sự thiếu vắng các mục tiêu có ý nghĩa sẽ dẫn đến hung hăng, nghiện ngập, trầm cảm và tự tử, khởi phát hoặc làm gia tăng các rối loạn tâm thần (Batthyany, 2019). Ý nghĩa sống là một khái niệm có tầm quan trọng trung tâm đối với sự tồn tại tâm thần học và tâm lý học, và gần đây đã là xu hướng chính của tâm lý. Nó đã được định nghĩa là '.
nhận thức về trật tự, sự mạch lạc và mục đích tồn tại của một người, theo đuổi và đạt được các mục tiêu đáng giá, và đi kèm với cảm giác thỏa mãn ' (Reker & Wong, 1988). Frankl (1959, 1967) tin rằng cuộc sống có ý nghĩa trong mọi điều kiện, ngay cả những điều kiện đau khổ. Anh ta khẳng định rằng khi việc tìm kiếm ý nghĩa của một người bị chặn, sự thất vọng hiện hữu kết quả, cuối cùng có thể dẫn đến ”rối loạn tâm thần không thực tổn”, đây là một bệnh lý rối loạn tâm thần. Sự phát triển của con người đòi hỏi sự cam kết đối với các giá trị và mục tiêu quan trọng đã lâu đời theo các truyền thống tôn giáo và triết học cổ đại (Hadot, 1995; Smith, 1991).
Một số nhà tâm lý học lâm sàng đi trước đã áp dụng ý tưởng này và áp dụng khái niệm ý nghĩa cuộc sống vào các mô hình điều trị và đau khổ tâm lý của họ (Frankl, 1946/1959; Horney, 1950; Jung, 1954). Frankl đề xuất rằng ý nghĩa cuộc sống thúc đẩy khả năng phục hồi trước những sự kiện đau thương. Cuốn sách Đi tìm lẽ sống của ông minh họa vai trò quan trọng của ý nghĩa cuộc sống đối với sức khỏe thể chất và tinh thần của các tù binh trong các trại giam của Đức Quốc xã. Khái niệm ý nghĩa sống với tư cách là ý nghĩa được tạo thành, và ý nghĩa liên quan đến bản chất của bản thể và sự tồn tại của một người (Steger và cộng sự, 2006).
Họ khẳng định rằng có hai chiều kích đặc trưng cho 7 ý nghĩa cuộc sống; cụ thể là, (i) sự hiện diện của ý nghĩa sống (nhận thức về việc cuộc sống có ý nghĩa hay không), và (ii) tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống (sự hào hứng muốn hiểu ý nghĩa cuộc sống). Wong (1998) đã định nghĩa ý nghĩa sống là một công trình cá nhân xây dựng dựa trên nhận thức ảnh hưởng đến sự lựa chọn hoạt động của một cá nhân và mục tiêu, và kết thúc cuộc sống với cảm giác có mục đích, có giá trị cá nhân và sự hoàn thành”. Như vậy vai trò của ý nghĩa sống của thanh thiếu niên có thể là điểm trung tâm để chuyển đổi thành công vào tuổi trưởng thành. Và một thanh thiếu niên có thể nhận được nghĩa là từ nhiều nguồn khác nhau.
Theo đến Wong’s (1998) Hồ sơ ý nghĩa cá nhân, những nguồn này có thể là thành tựu, mối liên hệ, tôn giáo, tự siêu việt, tự chấp nhận, thân mật và đối xử công bằng. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng sự hiện diện của ý nghĩa cuộc sống có tương quan chặt chẽ với kết quả hạnh phúc (Steger và cộng sự 2008). Ý nghĩa sống đóng vai trò là thành phần cơ bản của sức khỏe tâm lý con người (Frankl, 2020). Ý nghĩa sống là nguồn lực trung tâm trong quá trình tự điều chỉnh và tự nhận thức, ý nghĩa sống có tương quan thuận và là một yếu tố dự báo với chất lượng sống và sức khỏe tâm lý (Damásio và cộng sự, 2013).
Khi một người không thể nhận ra "Chí hướng ý nghĩa" của mình trong cuộc sống, họ sẽ trải qua một cảm giác vô nghĩa và trống rỗng. Sự thất vọng về nhu cầu tồn tại đối với các mục tiêu có ý nghĩa sẽ dẫn đến hung hăng, nghiện ngập, trầm cảm và tự tử, và nó có thể sinh ra hoặc làm tăng các bệnh tâm thần và rối loạn thần kinh (Batthyany, 2019). Sức khỏe tâm lý (Psychological Well-Being) 1. Định nghĩa Sức khỏe tâm lý là sự tổng hợp của sức khỏe tâm thần, triệu chứng lâm sàng và quá trình phát triển suốt đời của hoạt động tâm lý tích cực (Ryff,1996).
Về mặt khái niệm, các tiêu chí này khác với tiêu chí chỉ số về hạnh phúc và sự hài lòng trong cuộc sống (Bradbum NM, 1969; Diener E, 1984). Sức khỏe tâm lý đạt được khi đạt được trạng thái cân bằng bị ảnh hưởng bởi các sự kiện cuộc sống vừa thử thách vừa bổ ích. Trong lịch sử, nghiên cứu sức khỏe tâm thần thường về phía rối loạn chức năng tâm lý. Đó là các nghiên cứu về các vấn đề tâm thần hơn về hoạt động tâm lý tích cực.
Trong thực tế, ý nghĩa của các thuật ngữ cơ bản, chẳng hạn như sức khỏe tâm thần thường sử dụng như là tâm lý tiêu cực hơn là sức khỏe tâm lý tích cực. Các nghiên cứu như vậy đã bỏ qua năng lực và nhu cầu của con người về phát triển cũng như các tính năng bảo vệ liên quan với tâm lý khỏe mạnh (Ryff, Carol D. Cấu trúc sức khỏe tâm lý Lý thuyết về hoạt động tâm lý tích cực dựa vào các học thuyết (Maslow A, 1968) quan niệm của Maslow về việc tự hiện thực hóa (conception of self-actualization), quan điểm của Roger (Rogers CR, 1961) về người hiện thực hóa tiềm năng đầy đủ (view of the fully functioning person), Jung’s (Jung CG, 1963; Von Franz ML, 1964) và Allport’s (Allport GW, 1961) quan niệm về sự trưởng thành. Một lý thuyết khác để xác định tâm lý ổn định (psychological well-being) xuất phát từ quan điểm tinh thần phát triển suốt cuộc đời, trong đó nhấn mạnh những thách thức khác nhau phải đối mặt ở các giai đoạn khác nhau của cuộc đời.
Đó là mô hình giai đoạn tâm lý xã hội (Erikson E, 1959) của Erikson, 9 Các khuynh hướng sống cơ bản của Buhler (Buhler C. Massarik F, 1968) hướng tới sự trưởng thành của cuộc sống và mô tả của Neugarten (Neugarten BL, 1968; Neugarten BL, 1973) về thay đổi nhân cách ở tuổi trưởng thành và tuổi già. Jahoda's (Jahoda M, 1958) định nghĩa về hạnh phúc như không có bệnh tật cũng cung cấp các mô tả sâu rộng về ý nghĩa của việc sức khỏe tâm lý tốt. Qua những mô hình lý thuyết của Ryff và các cộng sự (Ryff & Singer, 1998) đã thiết lập thành công một mô hình về sức khỏe tâm lý tốt hay sức khỏe tinh thần tích cực, bao gồm sáu khía cạnh của hoạt động: tự chủ, làm chủ môi trường, cá nhân trưởng thành, quan hệ tích cực với người khác, mục đích sống và sự chấp nhận bản thân.