phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn đ- oc bố cục thành 2 ch- ong, 7 tiết. Ngoài ra, trong luận văn còn có phần Phụ lục ảnh minh họa. Ch ơng 1 KHÁI QUAT VE MOI QUAN HỆ GIỮA PHẬT GIAO VA TIN NGƯỠNG DÂN GIAN Ở VIỆT NAM 1. Một số nét cơ bản của Phật giáo Việt Nam 1.
Quá trình du nhập và phát triển đạo Phát ở Việt Nam Phật giáo ra đời ở Ấn Độ cách ngày nay hơn 2500 năm. Có thể nói, sự ra đời của Phật giáo bắt nguồn từ những nguyên nhân kinh tế, xã hội sâu xa và khởi đầu, học thuyết Phật giáo là một trong những trào l-u t- t-ởng chống lại chế độ dang cấp và đạo Bà-la-môn thời bấy giờ. Ng- di sáng lập học thuyết này là Thái tử Tất Dat Da, họ C6 Đàm (GautamaSiddhattha). Ngài là con Đức vua Tịnh Phạn, thuộc bộ tộc Thích Ca (Sakya).
Sau một quá trình thiển tu khổ hạnh đã phát nguyện, nhập thiền và đại giác, Tất Đạt Đa đã tìm ra chân lý, hiểu đ- ợc bản chất của tồn tại, nguồn gốc của khổ đau và con d- ờng cứu vớt, diệt tận khổ đau. Từ khi ra đời cho đến khi xác lập đ- ợc vị trí ở Ấn Độ và trở thành một trong những tôn giáo lớn của thế giới, Phật giáo đã trải qua 4 lần kết tập kinh điển để xây dựng một học thuyết tôn giáo hoàn chỉnh. Sau lần kết tập thứ t- , Phật giáo suy tàn dân ở Ấn Độ, nh- ng lại phát triển ra bên ngoài một cách nhanh chóng về phía Bắc, đến các vùng Trung Á, Mông Cổ, Tay Tạng, Trung Quốc, Nhật Bản, Triéu Tiên. về phía Nam, đến Sri Lanca, Mianma, Thái Lan, Campuchia, Lào, Inđônêxia, Malaixia.
và trở thành một tôn giáo mang tính quốc tế. Phật giáo có đặc điểm khác với các tôn giáo khác, đó là: đức Phật giảng dạy các ph- ơng pháp và các giáo lý thực hành chứ không phải là các tín điều, giáo điều. Giáo lý ấy không phải là những gi để tin, để suy luận mà là để thực hành. Đức Phật đã dựa trên cơ sở thực hành để nói về pháp và theo ng- ời mọi 10 kết luận chỉ có thể là đúng khi nó đ-ợc kiểm chứng bởi tự thân mỗi ng- ời.
Phật giáo hấp dẫn nhiều tầng lớp, từ trí thức đến nông dân chính bởi những nội dung cực kỳ phong phú. Nghĩa lý chính pháp trong đạo Phật cao siêu mà vẫn gần gũi, phù hợp với nền tảng đạo đức, văn hoá và khoa học nên đã đáp ứng đ-ợc nhu cầu tâm linh của đông đảo chúng sinh. Theo Albert Einstein, Phat giáo là khoa học vì nói lên bản chất của sự vật đúng lẽ thật. Và nếu khoa học mới chỉ biết đến những quy luật tương tác của “vật với vật” thì Phật giáo từ lâu đã tìm hiểu quy luật về sự tương tác giữa “tâm và vật”, giữa “tâm và tâm”.
Thực chất của đạo Phật là học thuyết về nỗi khổ và sự giải thoát. Phật chỉ rõ sự thật và nguyên nhân khổ dau của con ng- Oi, chỉ dạy con d- Ong để có thể giải thoát, chấm dứt sự khổ đau. Vì thế, toàn bộ triết lý của đạo Phật đặt trên hai trụ cột: “tứ diệu đế” và “bát chính đạo”. Mọi cách giải thích khác nhau của sách Phật giáo hầu hết đều chỉ là sự giải thích nông, sâu, rộng, hẹp của hai phạm trù này mà thôi.
Tứ điệu đế nói về nỗi khổ, nguyên nhân va con d- ờng để diệt trừ nỗi khổ. Bat chính đạo là tám con d- ờng hay tám ph- ong tiện màu Ý 66 nhiệm, nhằm giúp con ng-ời từ cõi “u mê” để “giác ngộ” nhằm đạt tới cõi “Niết bàn”. Như vậy, có thể thấy, đạo Phật là đạo giác ngộ, không phải khởi nguyên bằng suy t-ởng mà bằng sức sống chân that của mình. Những nội dung cụ thể đ-ợc khái quát là: Tứ đế, ngũ udn, thập nhị nhân duyên, hitulkhéng, bát chính dao.
Sau khi đức Phật nhập Niết Bàn, do sự bất đồng ý kiến trong việc giải thích kinh điển và thực hành giới luật, các đệ tử của Ng- Oi chia làm 2 phái: phái các vị tr-ởng lão gọi là Th- ong toa theo xu h- ớng bảo thủ, chủ tr- ong bám sát kinh điển, giữ nghiêm giáo luật. Phật tử phải tự giác ngộ bản thân mình, chỉ thờ Phật Thích Ca và chỉ tu đến bậc La - hán. Số tăng chúng còn lại lập ra phái Đại chúng, chủ tr- ơng không cố chấp theo kinh điển, khoan dung, đại l-ơợng trong thực hiện giáo luật, thu nạp tất cả những ai muốn giác ngộ, quy y, giải thoát cho nhiều ng-ời, thờ nhiều Phật và tu qua các bậc từ La - 11 hán, Bồ - tát cho đến Phật. Sau này, phái Đại chúng soạn ra kinh sách riêng tự xưng là Đại thừa, nghĩa là “cỗ xe lớn” (chở được nhiều người) và gọi phái Thượng toạ là Tiểu thừa, nghĩa là “cỗ xe nhỏ” (chở được ít người).
Phái Đại thừa phát triển nên phía Bắc nên gọi là Bắc tông, phái Tiểu thừa phát triển xuống phía Nam gọi là Nam tông. Phật giáo truyền vào n- ớc ta từ rất sớm với mốc thời gian đ-ợc nhiều nhà nghiên cứu đồng thuận là từ những năm đầu Công nguyên. Lịch sử Trung Quốc cũng ghi nhận rằng, vào những năm đầu công nguyên, trong khi ở miền Nam Trung Quốc ch-a biết đến Phật giáo thì ở Luy Lâu (thuộc Thuận Thành, Bắc Ninh ngày nay) đã có một trung tâm Phật giáo và Phật học khá phồn thịnh. Thời kỳ đầu Phật giáo vào Việt Nam chủ yếu xuất phát từ Ấn Độ đi bằng đ- ờng biển, cùng với các th- ơng nhân.
Từ thế ky II đến thế ky V, Phật giáo tiếp tục truyền vào Việt Nam gắn với tên tuổi một số nhà s- Ấn Độ và Trung Quốc nh-: Ma ha kỳ vực (Mahajvaka), Khau đà la (K'Sudra), Mau Bác c- sỹ, Kh-ơng Tăng Hội, Chi C-ơng L- ơng, Đàm Hoàng. Đến thế kỷ V, Phật giáo đã đ- ợc truyền đến nhiều nơi trên đất n- ớc và đã xuất hiện những nhà s- Việt Nam có danh tiếng nh- Huệ Thắng, Thích Đạo Thiền v. Từ thế kỷ VI đến thế kỷ X vẫn đ- ợc xem là giai đoạn truyền đạo của Phật giáo. Nếu ở giai đoạn này, ảnh h-ởng của các nhà truyền giáo Ấn Độ giảm dần thì ảnh h-ởng của các nhà truyền giáo Trung Quốc lại tăng lên.
Đáng chú ý hơn cả là việc các phái thiển Trung Quốc du nhập vào Việt Nam, nh- phái Tỳ-ni-đa-l-u-chi (Vinitaruci ở Việt Nam 580 - 594), phái Vô Ngôn Thông (đến Việt Nam năm 820). Sang thế kỷ X, Việt Nam b-ớc vào ky nguyên độc lập tự chủ sau một ngàn năm Bắc thuộc đã tạo điều kiện cho Phật giáo phát triển sang một b-ớc mới, các vị vua thời Dinh và Tién Lê (968- 1009) đã có những chính sách nâng đỡ Phật giáo. Dinh Bộ Lĩnh sau khi lên 12 ngôi hoàng đế đã triệu tập các vị cao tăng để định rõ phẩm trật cho tăng già. Vua Lê Đại Hành cử những phái đoàn sang Trung Quốc thỉnh kinh để về truyền bá Phật pháp.
Đặc biệt, vua Dinh Tiên Hoàng và vua Lê Dai Hành đã trọng dung và phong th- Ong cho những nhà s- có công giúp vua lo việc triều chính. Phật giáo đặc biệt phát triển ở thời Lý và thời Trần. Lúc này, trong n- ớc, từ vua quan đến thứ dân đều tôn sùng Phật giáo, t- t-ởng của Phật giáo đ- oc lấy làm một hệ t- t- Ong xã hội và chính sách ngoại giao. Chùa tháp đ- oc xây dựng nhiều, kể cả những vùng biên c- ơng hẻo lánh và nơi c- trú của các dân tộc thiểu số.
Thién uyén tập anh còn ghi lại vai trò của các thién s- thời Lý: Khi vua Thái Tổ lên ngôi, th- ờng mời s- Da Bảo vào cung hỏi han về đạo, ân lễ rất hậu. Đến cả việc chính sự trong triều, s- đều đ-ợc tham dự quyết định. Nh-ng từ khoảng giữa thế kỷ XIV, Phật giáo bat đầu b- ớc vào thời kỳ suy thoái do nhiều nguyên nhân khác nhau: tầng lớp ủng hộ Phật giáo mạnh mé là quí tộc họ Trần mất dan uy lực chính trị và kinh tế bởi chế độ sở hữu ruộng đất kiểu điền trang thái ấp khá phổ biến đã bắt đầu tan rã. Trong khi đó, Nho giáo với chế độ khoa cử đang dần thắng thế.
Các quan lại xuất thân từ Nho học bắt đầu nắm các vị trí quan trọng trong bộ máy nhà n- ớc. Suốt một thời gian dài, nền học thuật n- ớc nhà chủ yếu nằm trong tay các nhà s- nay d-oc thay thế. Mặt khác, đến lúc này số ng-ời xuất gia đã quá đông, l-ợng tăng đồ trong các ngôi chùa rất lớn (có lúc “quá nửa số dân trong n-ớc là s- sai” - theo lời sử gia Lê Văn H-u), nhiều tiêu cực trong cửa chùa nảy sinh đã ảnh h-ởng không nhỏ tới đời sống xã hội. Vì thế, đến “năm 1396, khi Hồ Quý Ly ra lệnh sa thải tăng đồ, bắt những người dưới 50 tuổi phải hoàn tục” [12, tr.189] thì Phật giáo đã thực sự kết thúc vai trò chi phối của mình trên chính tr- ờng.
Sang thé ky XV, Phật giáo càng bị hạn chế nặng nề hơn, ngoài việc cuối năm 1429 tập trung s- sai bắt khảo khí, việc xây dựng chùa cũng bi triều đình xem xét khat khe, nhất là sự kiện năm 1437, đại đô đốc Lê Ngân 13 bị tội “vì thờ Phật Quan Âm để cầu mong cho con gái mình là Huệ phi đ- ợc vua yêu” [12, tr.350] đã giáng một đòn nặng nề vào Phật giáo. Việc Lê Ngân bị tội là bởi lý do khác, thờ Phật chỉ là cớ, nh- ng rõ ràng đó là một biểu hiện cho thấy Phật giáo không còn đ-ợc triều đình tôn sting nữa. Và, đến cuối năm 1461, khi vua Lê Thánh Tông ra lệnh cấm xây thêm chùa quán và cấm “những người bói toán, đạo Thích ở trong nước từ nay về sau không được trò chuyện trao đổi với người trong cung và hậu đình” [12, tr.403], thì Phật giáo không còn vai trò đối với tầng lớp thống trị nh- thời kỳ tr- ớc nữa mà chỉ còn những ảnh h- ong nhất định trong dân gian. Nh- ng từ thế ky XVI, sau khi nhà Mạc soán ngôi nhà Lê, chiến tranh xảy ra liên miên làm cho đời sống của nhân dân khốn khổ, chính quyển suy yếu, Nho sĩ suy thoái khiến niềm tin của các nhà chính trị, trí thức vào Nho giáo ngày càng bị lung lay, thì, nh- một tất yếu, Phật giáo vốn vẫn tiềm tàng trong giới bình dân lại có chiều h- 6ng h-ng khởi, nhất là trong vùng kiểm soát của nhà Mạc.