Chương 1 HOÀN CANH RA ĐỜI CUA PHẬT GIÁO VÀ NHỮNG NỘI DUNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA NÓ 1. Hoàn cảnh ra đời và người sáng lập ra Phật giáo 1. Hoàn cảnh ra đời của Phật giáo Phật giáo Án Độ ra đời trên cơ sở văn hoá truyền thống của nó, đó là những điều kiện xã hội và tiền dé tư tưởng, trong đó tiền dé tôn giáo đóng vai trò quyết định đến những nội dung tư tưởng cơ bản của Phật giáo. Ra đời trong giai đoạn cuối của thời kỳ Vệ Đà, tức thời kỳ hình thành các bộ kinh quan trọng của tôn giáo Vệ Đà với sự xuất hiện các dòng phái triết học - tôn giáo chính thống, đồng thời làm xuất hiện giai đoạn mới của tôn giáo này là Bà La Môn, Phật giáo cùng với Ky Na giáo (Jaina) đã trở thành những trường phái triết học - tôn giáo chống lại chủ trương phân biệt đẳng cấp xã hội và đi liền với nó là vấn đề giải thoát con người ra khỏi sự khổ đau.
Sự phân chia đăng cấp do Bà La Môn thực hiện, có thé nói, là tiền đề quan trọng cho sự xuất hiện các trường phái phi chính thống mà chúng ta cần tìm hiéu một cách cặn kẽ hơn những đặc thù về vị thế, vai trò của các đăng cấp xã hội An Độ thời đó. Từ thế kỷ VI (TCN) đến thế kỷ I (SCN), chế độ chiếm hữu nô lệ mang tính gia trưởng kiểu phương Đông đã khá phát triển ở An Độ. Thủ công nghiệp đã tách khỏi nông nghiệp. Trên cơ sở của Luật "Ma Nu"’, xã hội An Độ được chia thành 4 đăng cấp: 1.
Brahmana (Tăng lữ, Bà Lamon) ? - Ma Nu - một vị than được xem là thuỷ tổ của người ấn Độ, trên cơ sở tín niệm ấy đã xuất hiện Luật Manu thời Ba La Môn giáo về phân biệt đăng cap xã hội. Sudra (giai cấp cùng đinh nô lệ) Các đăng cấp này được phân biệt bởi vị thế, màu sắc y phục, nguồn gốc xuất thân của các thành viên, được sắp xếp từ cao xuống thấp. Ba đăng cấp trên đều là người Aria, nó cách biệt về mọi lĩnh vực đời sống SO với Sudra, đăng cấp chủ yếu là người Ấn bản địa (Dravia). Những người đàn ông thuộc ba đăng cấp trên được quyên tiếp xúc với những lễ nghi tôn giáo và thông qua đó mà có được tri thức như là điều kiện tiên quyết cho sự giải thoát.
Vì thế, họ được xem là những người được sinh ra lần thứ hai. Đăng cấp nô lệ (Sudra) và tất cả những người phụ nữ không có quyền nói trên. Do đó, họ không được giải thoát, thậm chí những người thuộc đăng cấp thứ tư này bị đối xử như súc vật, bị các đăng cấp khác xua đuổi hoặc giết chết một cách thản nhiên. Như vậy, sự cách biệt không chỉ bởi đặc quyền tiếp xúc với các lễ nghị, tri thức [Veda] cua tăng lữ Bà La Môn, bởi sức mạnh thong trị, tan sát, chiếm hữu về mặt nhà nước của Ksatrya; bởi tầng lớp quốc nhân (tầng lớp nhân dân lao động có một số thực quyên, ma còn bởi điều kiện giải thoát cho con người ra khỏi cuộc đời khổ đau truyền kiếp).
Đề cập đến các tiền đề xuất hiện của Phật giáo không thê thiếu văn hoá tư tưởng. Đó là các văn bản tư liệu cô nhất của Án Độ được hình thành qua hàng thế kỷ mà từ đó xuất hiện các trường phái triết học khác nhau, đặc biệt là các dòng chính thống. Tuy Phật giáo là một học thuyết tôn giáo triết học phi chính thong của An Độ, song những khái niệm, phạm trù của nó đều có nguồn gốc từ các văn kinh của Vệ Đà. Vệ Đà có nghĩa là tri thức, là tập hợp các tập quán tín ngưỡng, các bai văn ca ngợi thần linh từ thiên niên kỷ thứ 3 TCN, còn gọi là các samhita.
Tiếp theo Vệ Đà hay còn gọi là lớp tư liệu thứ hai là Brâhmana chứa đựng những -ll- nội dung kiến giải, chú thích cho các samhita. Lớp thứ ba là Aranyaka, còn gọi là sách chú giải dành cho các cư sĩ sống trong rừng. Lớp thứ tư là Upanishad, là bộ sách chú giải mang ý nghĩa triết học sâu sắc nhất. Các samhita gồm có 4 bộ.
Thứ nhất là Rigveda, hay còn gọi là Vệ Đà của các bài thánh ca ca ngợi các thần linh, được hình thành từ thế kỷ 18 đến thế ky 12 TCN. Thứ hai là Sammaveda, còn gọi là Vệ Da của các giai điệu, da phần trùng hợp với các bài thánh ca trong Rigveda nhưng mang ý nghĩa lễ nghi tôn giáo nhiều hơn. Thứ ba là Jadzurveda, còn gọi là Vệ Đà của các lễ nghi hiến tế. Thứ tư là Atharvaveda, còn gọi là Vệ Da của những yếu tố ma thuật, phù chú.
Thế giới quan thần thoại, tín ngưỡng tôn giáo, chủ nghĩa duy tâm trong thánh kinh VéDa, Upanishad đã trở thành hệ tư tưởng thống trị đời sống tinh thần người Ấn Độ cổ. Người sáng lập Phật giáo Vào giữa thiên niên kỷ thứ nhất, tại miền Bắc Ấn Độ thuộc lưu vực sông Hằng và chân núi Hi Mã Lạp Sơn có một người từ dòng tộc Gautama thuộc bộ lac Aria được sinh ra. Đó là hoàng tử của vua Saddhodan nước Ca Ti La Vệ (Capilavastu) tên là Siddhartha Gautama. Siddhartha mồ côi mẹ từ khi mới sinh và tương truyền người cha được báo trước về thân phận của con mình rằng, đứa trẻ về sau sẽ trở thành nhà tu hành, nếu nó bắt gặp những hiện tượng ngoài đời như bệnh, lão và tử của con người.
Người cha của Siddhartha không muốn điều đó xảy ra đã cố gắng bang mọi cách nuôi dạy người con trai duy nhất của mình trong cung điện. Tuy nhiên, khi lớn lên, Siddhartha tỏ ra băn khoăn bởi những mặt trái khổ đau trong cuộc sống của con người. Con đường tu hành của Siddhartha có nguyên nhân liên quan đến điều tiên đoán trước đây. Đó là những lần Siddhartha ra ngoài cung điện, bắt gặp hiện thực cuộc sống của con người như những trường hợp Ngài thấy người bệnh tật, già -12- yếu, người chết và động lực thúc đây mạnh nhất dẫn đến quyết định của ông là sự gặp gỡ nhà tu hành, một cách sống giúp con người thoát khỏi mọi phiền não của cuộc đời.
Siddhartha trở thành nhà tu hành từ năm 29 tudi. Sáu năm nghiên cứu kinh Vệ Đà, sau đó thực hành cuộc sống tu hành khổ hạnh. Song, Ngài đã nhận ra con đường tu hành khổ hạnh thông qua hành xác không đem lại kết quả mà Ngài mong đợi, đó là nhận thức chân lý. Cuối cùng, bằng việc áp dụng phương pháp thiền định dưới gốc cây Bồ Đề, Ngài đã giác ngộ, trở thành Phật (Budha).
Sau khi đạt đến chính quả, Sddhartha thực hiện việc truyền bá học thuyết của mình. Các đệ tử của Ngài rất đông, dần dần hình thành nên cộng đồng Phật giáo và họ tôn Ngai là Thích Ca Mau Ni. Quá trình truyền bá của Thích Ca Mau Ni kéo dài 45 năm và Ngài viên tịch vào tuổi 80. Các tài liệu khoa học hiện đại khẳng định niên đại của Phật là 563 - 483 tr.
Là người sáng lập trường phái Phật giáo thuộc hệ phái phi chính thống trong lịch sử triết học An Độ cổ đại, song Phật không trước tác, tức không dé lai những tác pham giáo lý kinh điển của Phật giáo. Những kinh điển Phật giáo mà hiện nay đang được lưu hành đều do các môn đệ của Ngài qua các thé hệ biên tập va phát triển từ hình thức truyền miệng. Những tác phẩm kinh điển đầu tiên được tập hợp trong suốt 300 năm sau khi Phật mất, đó là vào thời thịnh vượng của Phật giáo, thời vua Asoka. Ông vua này được gọi là Phật hoàng, người có công tiến hành ba cuộc kết tập và hình thành nên bộ kinh điển quan trọng của Phật giáo mang tên Tam tang kinh (Tripitaka - ba giỏ lớn chứa đựng các nội dung giáo lý Phật giáo được viết trên những chiếc lá dừa).
Kinh điển được viết băng tiếng Pali, do đó nó còn được gọi dưới tên khác là kinh Pall. -13- Tam tạng kinh bao gồm: 1. Kinh tạng (Sutta-pitaka) - tập hợp các bài giảng của Phật và những bài giảng của học trò được Ngài cho phép giảng trong cộng đồng Phật giáo; 2. Luận tang (Abhidhamma-pitaka) - phan phát triển Kinh tạng về phương diện triết học, tâm lý - đạo đức bởi những bậc đạt đức cao siêu; 3.
Luật tạng (Vinaya - pitaka) tập hợp các giới luật, chuẩn tắc cuộc song của nhà tu hành va điều luật của các tổ chức giáo hội Phật giáo. Những nội dung tư tưởng cơ bản của triết học Phật giáo 1. Vài nét khái quát về thế giới quan Phật giáo Phật Thích Ca đã né tránh một cách có ý thức những vấn đề lớn của thế giới quan như cấu trúc của vũ trụ, linh hồn và mỗi quan hệ của nó với thể xác. Những vấn đề khác như thế giới có vĩnh hằng hay không, nó hữu hạn hay vô hạn, linh hồn có đồng nhất với thể xác không, linh hồn bat tử hay không bat tử đều được Phật xem là không quan trọng.
Phật chỉ quan tâm nhất đến điều là làm thé nào dé giải thoát con người ra khỏi thế giới đầy rẫy những khổ đau. Tuy nhiên, dé thực hiện điều đó, Phật kêu gọi phải có nhận thức đúng về thé giới ngoại cảnh đang không ngừng biến đổi trên lập trường của thuyết duyên sinh vô ngã. Phật giáo bác bỏ Brahman và Atman nhưng lại tiếp thu tư tưởng luân hồi và nghiệp. Quá trình hình thành thế giới và sự vận động của nó theo luật nhân quả, nhân duyên.
Đạo Phật ra đời khi mà xã hội An Độ lúc bấy giờ đã có một nền văn minh phát triển rực rỡ. Dé cho triết thuyết của mình có thé đứng vững trước thuyết tạo thần của Blamon, Đức Phật đã xây dựng thuyết duyên sinh làm nền tảng cho học thuyết của mình. Đức Phật dạy răng, vô ngã, vô thường là một sự thực ở đời, nhưng xưa nay hầu như không ai hiểu được điều đó. Do "vô minh" nên ai cũng nghĩ rằng mình tồn tại trên cõi đời này tức là sự kết hợp của ngũ uan (sắc uan, thọ uan, tưởng uân, hành uân, thức uân) nhưng sac là vô ngã, tho là vô ngã, uân là vô ngã, hành là vô ngã, thức là vô ngã mà -14- "Kinh vô ngã tướng" [58, tr.29 - 32] đã chỉ ra rất rõ, nên thật ra không có cái Ta trên cõi đời này.
Năm uân hình thành nên con người va cũng chính năm uan hình thành nên thế giới.