CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ TOÀN CẦU HOÁ VÀ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TOÀN CẦU HOÁ VÀ TOÀN CẦU HOÁ Ở VIỆT NAM Thế giới đang bước vào thập niên thứ hai của thế kỷ XXI với những biến đổi vô cùng lớn lao, nhiều vấn đề mới và phức tạp đang diễn ra và vận động biến đổi từng ngày. Trong đó, toàn cầu hoá là một vấn đề đang nổi lên và trở thành một trong những xu hướng nổi bật trong quan hệ quốc tế. Ngay từ khi xuất hiện, toàn cầu hoá luôn là một chủ đề thu hút sự quan tâm của các chính phủ, các thể chế kinh tế - chính trị, các nhà nghiên cứu và hoạch định chiến lược cũng như của cả những người dân bình thường và nhanh chóng trở thành vấn đề được bàn luận sôi nổi nhất.
Thực tế đó cho thấy, toàn cầu hoá giờ đây không còn là một lí thuyết, một xu hướng của tương lai mà nó đã thực sự hiện hữu trong cuộc sống, nó đã hàng ngày hàng giờ tác động lên cuộc sống, suy nghĩ, nhận thức và hành động của mỗi chúng ta dù chúng ta đang ở đâu, giữ cương vị nào hay làm công việc gì. Quan niệm về toàn cầu hoá Xét về bản chất, quá trình toàn cầu hoá có thể được xem là giai đoạn phát triển tiếp theo và cao hơn về chất so với quá trình quốc tế hoá đã có từ trước đó. Toàn cầu hoá là một chủ đề rộng và được hiểu dưới nhiều khía cạnh khác nhau, vì vậy, việc xác định thời điểm xuất hiện khái niệm này cũng có nhiều luồng ý kiến không đồng nhất. Có ý kiến cho rằng thuật ngữ toàn cầu hoá được xuất hiện vào những năm 50 của thế kỷ XX và được sử dụng một cách rộng rãi từ những năm 90.
Lại có ý kiến cho rằng trước thập niên 1980, thuật ngữ toàn cầu hoá được thay thế bằng thuật ngữ quốc tế hoá. Đến năm 1961, thuật ngữ toàn cầu hoá – globalization – xuất hiện lần đầu tiên trong từ điển tiếng Anh của Webster. Nhưng mãi đến những năm cuối thập niên 1980 trở lại đây, thuật ngữ này mới được sử dụng một cách rộng rãi. Dù chưa thực sự thống nhất nhưng điều đó cũng cho thấy, toàn cầu hoá không phải 11 là một hiện tượng hoàn toàn mới.
Nó đã có một lịch sử khá dài. Tuy nhiên, xét về mặt thuật ngữ, khái niệm toàn cầu hoá lại là một thuật ngữ tương đối mới. Từ khi xuất hiện đến nay, toàn cầu hoá trở thành một xu thế lớn trong quan hệ quốc tế của thời kỳ đương đại, đồng thời nó cũng trở thành một đề tài không ngừng được đề cập và thảo luận một cách sôi nổi trên nhiều diễn đàn, hội nghị trên khắp thế giới. Từ chính những cuộc thảo luận này mà các nhà nghiên cứu dưới các góc độ và hướng tiếp cận cũng như mục đích khác nhau đã đưa ra nhiều quan niệm và cách hiểu khác nhau về toàn cầu hoá.
Sở dĩ có hiện tượng trên là vì toàn cầu hoá là một khái niệm mới, nội hàm chưa được xác đinh cụ thể và thống nhất. Bên cạnh đó, toàn cầu hoá cũng là một khái niệm, một thuật ngữ đề cập đến một nội dung rộng lớn, bao hàm nhiều lĩnh vực, cho nên, việc có nhiều quan niệm khác nhau, thậm chí đối lập nhau cũng là dễ hiểu. Nhìn chung, các quan niệm về toàn cầu hoá trong thời gian qua có thể được chia thành hai nhóm chính, theo phạm vi mà các khái niệm đó đề cập: đó là quan niệm rộng và quan niệm hẹp về toàn cầu hoá. Các quan niệm rộng về toàn cầu hoá Trong nhóm này, hầu hết các quan niệm của các tác giả xem toàn cầu hoá như là một hiện tượng, một quá trình có sức thâm nhập vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội… Tiêu biểu trong nhóm này có thể kể đến quan niệm của một số nhà nghiên cứu, cơ quan, tổ chức sau: Ban thư ký Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) cho rằng: “Toàn cầu hoá là một quan niệm có nhiều mặt vì nó bao quát cả lĩnh vực kinh tế, xã hội và chính trị và các hậu quả của sự phân phối” [38, tr.
Dưới góc độ của một tổ chức hoạt động trong lĩnh vực hỗ trợ và xúc tiến thương mại, giao lưu giữa các quốc gia trên khắp thế giới, Tổ chức Thương mại thế giới đã gợi ý cho chúng ta một cái nhìn ban đầu, có tính bao quát về toàn cầu hoá. Theo đó, toàn cầu hoá là một quá trình được hiểu bao gồm rất nhiều mặt, nhiều lĩnh vực trong cuộc sống con người mà chủ yếu là ở các lĩnh vực kinh tế, xã hội và chính trị. 12 Toàn cầu hoá là một quá trình lịch sử tự nhiên, là sự hội tụ thế giới trên phạm vi rộng, dùng để phân biệt với quá trình hội nhập trên phạm vi nhỏ hơn diễn ra trong phạm vi quốc gia hay địa phương. Đó là quan niệm của Roland Robestson, một nhà xã hội học người Anh.
Theo ông, quá trình toàn cầu hoá được khởi đầu từ khoảng thế kỷ XV tại một số nước châu Âu và được mở rộng ra trên phạm vi toàn lục địa vào giữa thế kỷ XVIII. Giai đoạn từ những năm 70 thế kỷ XIX đến những năm 20 của thế kỷ XX là giai đoạn mà toàn cầu hoá có sự phát triển nhanh chóng, tạo nên một sự thiết lập một xã hội toàn cầu. Quá trình đó là kết quả của sự phát triển tổng hợp của kinh tế, chính trị, văn hoá và công nghệ. Theo đó, lịch sử toàn thế giới ở giai đoạn hiện nay sẽ đi theo một tiến trình hợp nhất, trên cơ sở việc hình thành những thực thể xã hội lớn dần, mà lớn nhất là thực thể toàn cầu.
12] Ở Việt Nam, Giáo sư Lê Hữu Nghĩa lại cho rằng: “Toàn cầu hoá xét về bản chất là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, sự ảnh hưởng, tác động lẫn nhau của tất cả các khu vực đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của các quốc gia, các dân tộc trên toàn thế giới”. 27] Như vậy, theo giáo sư Lê Hữu Nghĩa, toàn cầu hoá là một quá trình mà dưới tác động của nó, những mối liên hệ, sự ảnh hưởng, tác động lẫn nhau vốn có của các quốc gia, dân tộc trên thế giới sẽ được thúc đẩy phát triển một cách mạnh mẽ hơn bao giờ hết và trên cơ sở đó sự liên hệ, phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia dân tộc sẽ ngày càng được củng cố. Toàn cầu hoá phá vỡ thế cô lập, đem các nước xích lại gần nhau, trong đó, mỗi quốc gia dân tộc sẽ đóng vai trò là một mắt lưới trong mạng lưới toàn cầu. Đó cũng là một cách nhìn nhận khá phổ biến được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước chấp nhận.
Tương tự như vậy, nhà nghiên cứu Mc Gren cũng cho rằng: “Toàn cầu hoá là sự hình thành một chuỗi vô số các liên kết ràng buộc giữa các chính phủ và các xã hội tạo lập nên một hệ thống thế giới hiện đại. Toàn cầu hoá cũng là một quá trình mà ở đó các sự kiện, các quyết định và các hoạt động của một phần thế giới có thể tác động nghiêm trọng đến các cá nhân và cộng đồng ở các phần khác xa của trái đất” [5, tr. Rõ ràng, đây là cách tiếp cận trên phạm vi rộng, tuy nhiên, quan niệm này cũng chỉ khái quát được bề nổi của toàn cầu hoá. Mặc dù toàn cầu hoá 13 thúc đẩy sự hình thành và củng cố những mối liên hệ và ràng buộc lẫn nhau giữa các quốc gia.
Trong thời đại toàn cầu hoá các quốc gia dân tộc có sự liên hệ và ràng buộc một cách tương đối bất chấp khoảng cách địa lí, chế độ chính trị. Cho nên, một sự kiện, một quyết định được diễn ra ở phần này của thế giới về thực chất là có tác động một cách tương đối và đôi khi là bất khả kháng đến phần còn lại của thế giới. Nhưng ai là chủ thể của những hoạt động, những quyết định đó hoàn toàn không phải đơn giản cũng như hoàn toàn không phải là ngẫu nhiên hay không mục đích. Đó là những khía cạnh mà Mc Gren vẫn chưa nghĩ đến.
Trong thư gởi Hội nghị Các Bộ trưởng của nhóm G7 họp tại New York vào tháng 9 năm 1999, Chủ tịch Phiđen Castrô viết: “Toàn cầu hoá là một quá trình lịch sử đang xác định khung cảnh thế giới cuối kỷ nguyên này. Đó là thực tế không thể đảo ngược được, mang đặc trưng của mối quan hệ tương tác về kinh tế và dân tộc giữa các quốc gia không ngừng tăng lên, vì những tiến bộ về khoa học kỹ thuật lớn lao đã rút ngắn khoảng cách và việc thông tin liên lạc truyền thông giữa các nước ở bất kỳ nơi nào trên hành tinh trở thành hiện thực” [5, tr. Như vậy, Chủ tịch Phiđen Castrô đã đề cập đến toàn cầu hoá như một quá trình lịch sử tự nhiên không thể đảo ngược. Nó là một trong những nhân tố lớn xác đinh khung cảnh thế giới ngày nay.
Một trong những nhân tố tác động đến sự hình thành và phát triển một cách nhanh chóng của toàn cầu hoá chính là sự phát triển, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật mà đặc biệt là của ngành truyền thông. Theo hướng tiếp cận đó, trong Báo cáo về phát triển con người của Chương trình phát triển Liên Hợp quốc (UNDP) năm 1999 có viết: “Toàn cầu hoá không mới, nhưng thời đại hiện nay của toàn cầu hoá có các tính chất riêng biệt. Sự hẹp lại của không gian và sự biến mất của các đường biên giới đang gắn kết cuộc sống của mọi người với nhau một cách sâu sắc, chặt chẽ và trực tiếp hơn bao giờ hết” [75, tr. Các học giả tư sản tại Hội nghị Lisbon đã đồng nhất toàn cầu hoá với toàn bộ các quá trình kinh tế, chính trị, xã hội, tư tưởng, văn hoá, đạo đức, lối sống…khi cho rằng có tổng cộng 7 dạng thức toàn cầu hoá gồm: toàn cầu hoá tài chính và tư 14 bản, toàn cầu hoá thị trường và các chiến lược về thị trường, toàn cầu hoá công nghệ, toàn cầu hoá các dạng thức đời sống và mô hình tiêu dùng, toàn cầu hoá quyền điều hành và chức năng của các chính phủ, toàn cầu hoá sự thống nhất thế giới về chính trị và toàn cầu hoá những cảm thụ và ý thức toàn cầu” [79, tr.