mở đầu bằng những cuộc di dân ngấm ngầm, không tuyên bố của người Việt từ đầu thế kỷ XVII. Chính lịch sử khai phá như vậy, nên nguồn gốc và thành phần cư dân Nam bộ rất đa dạng, phức hợp, một tập hợp những mảng vỡ các cộng đồng truyền thống lâu đời Việt, Khơme, Chăm, Hoa. Các cộng đồng truyền thống này vốn có quan hệ lịch sử văn hóa với nhau, nhưng đã hình thành những cộng đồng xã hội mang bản sắc độc lập, là những nét độc đáo so với miền Bắc và miền Trung. Họ là những người có nguồn gốc xã hội khác nhau.
Tuy vậy, họ đều có nguồn gốc văn hóa Việt truyền thống và giàu bản sắc. Khi vào vùng đất mới, hành trang văn hóa của họ khá phong phú, họ mang theo nhiều truyền thống phong tục tập quán ở miền Bắc, miền Trung. Nhưng dần dần trong quá trình thích nghi với môi trường mới, họ đã trút bỏ không ít những ràng buộc của thể Luanvanmaster.com – Cần Kham Thảo - Kết bạn Zalo/Tele : 0973.149 Viết thuê đề tài giá rẻ trọn gói - KB Zalo/Tele : 0973.149 chế cũ cũng như tâm lý, nếp sống cũ ở miền Bắc, miền Trung. đặc biệt ở vùng đất mới, người dân Nam bộ phải đấu tranh gian khổ để chống chọi với thiên nhiên, thú dữ, bệnh tật để sinh tồn.
Trước những hiểm nguy và thách thức, tính mạo hiểm, đầu óc sáng tạo được phát triển. Tuy nhiên, thiên nhiên ở Nam bộ rất phong phú, khi được khai thác lại tỏ ra rất hào hiệp, lại có khí hậu điều hòa nên đời sống vật chất của người dân không gặp khó khăn. Họ vốn đoàn kết để vượt qua thử thách hiểm nguy, đến khi có cuộc sống vật chất dễ chịu họ sống chan hòa cởi mở với nhau, tất cả những điều đó tạo ra tính cách rất đặc trưng của dân Nam bộ: khảng khái, nghĩa khí nhưng rất phóng khoáng, hào hiệp; đối với kẻ thù thì dũng cảm, kiên quyết; đối với anh em bạn bè thì chân thành cởi mở, trọng nghĩa khinh tài. Trịnh Hoài Đức đã nhận xét về Gia Định cũng là nhận xét chung về Nam bộ.
Gia Định đất rộng, thực vật nhiều, không lo bị đói rét, cho nên dân ít phải dành dụm sĩ khí hiên ngang, con người chuộng nghĩa tiết [19, tr 190]. ở Nam bộ với tính mở của địa hình, của thiết chế và cá tính của con người với đầu óc thông thoáng, sẵn sàng ở tư thế giao lưu, tiếp thu, rồi hội nhập với cái mới. Chính vì tính cách ấy, khi tiếp xúc với cái mới người Nam bộ dễ dàng có thái độ bao dung, chấp nhận, rồi tích cực ủng hộ. Do vậy sự kết dính giữa các tộc người cùng với tính cách văn hóa và trình độ của những người lưu tán đã là mảnh đất màu mỡ cho sự ra đời và nuôi dưỡng nhiều thứ tôn giáo, trong đó có đạo Cao Đài.
Hoàn cảnh kinh tế, chính trị, xã hội Với chính sách khai thác thuộc địa của Pháp, chính quyền thực dân Pháp đã coi Nam bộ là bộ phận đất đai của nước Pháp, họ đặt bộ máy cai trị trực tiếp, khác với Trung và Bắc bộ Việt Nam. Ngay sau khi chiếm được mảnh đất đầu tiên ở Nam bộ, thực dân Pháp đẩy mạnh hơn bao giờ hết cuộc khai thác thuộc địa với một loạt chính sách vơ vét bóc lột về kinh tế, áp bức thống trị về chính trị, nô dịch đồng hóa về văn hóa. Tình hình ấy đã đưa cuộc đấu tranh của các tầng lớp nhân dân, nhất là nông dân ở Nam bộ chống thực dân Pháp vào giai đoạn quyết liệt. Tuy nhiên, do hạn chế của giai cấp mình, nông dân không thể tự giải phóng được.
Lúc đó lại chưa có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, một chính đảng Luanvanmaster.com – Cần Kham Thảo - Kết bạn Zalo/Tele : 0973.149 Viết thuê đề tài giá rẻ trọn gói - KB Zalo/Tele : 0973.149 của giai cấp vô sản. Do vậy, cuộc đấu tranh của nhân dân lần lượt bị thực dân Pháp dìm trong bể máu. Sự bế tắc trong cuộc sống, sự thất bại trong cuộc đấu tranh đã làm cho một bộ phận nhân dân Nam bộ mất niềm tin, nên càng thúc đẩy họ tìm đến với tôn giáo. Những mong sự an ủi, chở che, do đạo Cao Đài khi mới ra đời ít nhiều mang tính phản kháng xã hội đương thời, với tư tưởng muốn phục hồi lại chế độ quân chủ, thông qua tư tưởng tam giáo, thích hợp với truyền thống yêu nước mặn mà của những người dân vùng đất mới.
Một vấn đề tư tưởng quan trọng dẫn đến sự ra đời và phát triển của đạo Cao Đài là sự khủng hoảng, suy thoái của các tôn giáo, đạo lý đương thời. Khi chưa có đạo Cao Đài thì quần chúng nhân dân theo đạo Phật, đạo Nho, đạo Lão và một số ít theo đạo Công giáo. Nhưng những tôn giáo này đã dần dần mất uy tín, khủng hoảng thậm chí chưa đáp ứng nhu cầu tâm linh, tín ngưỡng của một bộ phận quần chúng nhân dân. Trước hết là Phật giáo, với Phật giáo tiểu thừa tại chỗ của người Khơme với những quan niệm hạn hẹp về sự giải thoát và cách thức tu hành chỉ giải thoát cho chính người đi tu với phương châm tự độ, tự tha tỏ ra không thích hợp với hoàn cảnh sống và phong tục tập quán của cư dân Nam bộ, nhất là tinh thần liên kết của những người dân khai khẩn miền đất mới.
Phật giáo đại thừa bị suy vi từ mấy thế kỷ trước, nay bị chia rẻ theo nhiều tông phái, nhất là sự xâm nhập các yếu tố mê tín dị đoan của đạo Lão thần tiên. Suy thoái đến mức nhiều người ca thán, đến nỗi một số phật tử rời chùa, bỏ tu, nêu vấn đề chấn hưng. Đạo Nho là một học thuyết chính trị đạo đức có yếu tố tôn giáo, luôn bảo vệ quyền lợi và trật tự phong kiến, ngăn trở sự vận động của xã hội đương thời, một số giáo lý đã bị phê phán nên khó đi vào quần chúng đông đảo. Mặc dù đạo Nho vẫn còn là căn bản cho đạo đức gia đình trong những thập niên 1920, 1930.
đạo Lão thì gắn liền với các yếu tố mê tín dị đoan, phù thủy bùa chú đưa con người đến chỗ xuất thế mà quên đi hiện tại. Đạo Công giáo, lúc bấy giờ xét về mặt chính trị, trước con mắt của người dân Nam bộ gắn liền với cuộc xâm lược của Pháp, chính quyền Pháp và nó cũng gắn liền với sự mất nước. Mặt khác, xét về mặt tư tưởng với chủ trương độc tôn, phủ nhận sạch trơn các văn hóa tín ngưỡng truyền thống nên người dân Nam bộ không ưa, Luanvanmaster.com – Cần Kham Thảo - Kết bạn Zalo/Tele : 0973.149 Viết thuê đề tài giá rẻ trọn gói - KB Zalo/Tele : 0973.149 nếu không nói là khinh ghét, cho nên khó đi vào người nông dân Nam bộ vốn sống cởi mở và tự do. Đạo thờ tổ tiên trong đó có đạo ông bà, tuy gần gũi nhưng chưa đủ thỏa mãn tâm linh tôn giáo Trong khi người dân Nam bộ do đặc điểm riêng về mặt lịch sử, địa lý, dân cư nên có đời sống tâm linh phong phú, có nhu cầu sinh hoạt tôn giáo rất cao.
Đặc biệt, đầu thế kỷ XX do bị bế tắc trong cuộc sống, họ lại càng tha thiết đến với tôn giáo hơn. Các tôn giáo đương thời lại sa sút, mất uy tín đã tạo khoảng trống về mặt văn hóa, tâm linh, tạo điều kiện cho đạo Cao Đài ra đời và phát triển. đúng như Nguyễn An Ninh đã viết: “Dân đã mê muội trong các tôn giáo mà các tôn giáo, các đạo lý của Nhà nước đều suy sụp. Làm sao không theo đạo Cao Đài được" [5, tr 204].
Sự suy thoái của các tôn giáo đương thời là điều kiện cần nhưng chưa đủ để có thể lôi cuốn được nhiều tín đồ, vì còn thiếu một yếu tố huyền bí. Yếu tố đó là tục cầu hồn, cầu tiên ở phương Đông, kết hợp với phong trào thần linh học ở phương Tây. Phong trào thần linh học xuất hiện với quan niệm con người có 2 phần: Linh hồn và thể xác, đây là một hình thức mê tín, giống như tục cầu hồn, cầu tiên đã thâm nhập vào Nam bộ nó có vẻ như là một khoa học huyền bí; vì vậy nó có khả năng đem lại cho đồng bóng và đạo giáo một sự biện hộ mới, một sức sống mới, khiến cho nhiều người hâm mộ khi gặp gỡ với sinh hoạt cầu cơ của Ngũ chi Minh đạo, đã làm dấy lên phong trào cầu cơ chấp bút gọi tắt là cơ bút được giới công chức, trí thức, tư sản, tiểu tư sản đón nhận một cách nồng nhiệt dẫn đến việc ra đời của đạo Cao Đài. Có thể nói, đạo Cao Đài ra đời ở Nam bộ những năm đầu thế kỷ XX là một hiện tượng tôn giáo xã hội tất yếu vì ở đó đã hội đủ các yếu tố về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và tư tưởng để dẫn đến sự ra đời của một tôn giáo mới: đạo Cao Đài.
Sự hình thành đạo Cao Đài Người đặt nền móng đầu tiên xây dựng lý thuyết cho đạo Cao Đài là Ngô Văn Chiêu, ông là người ham mê chuyện thần tiên và cầu cơ, xem đó là thú vui tâm linh cho riêng mình và cùng bè bạn vào những cuộc cầu hồn kiểu phương Tây: xây bàn - xuất phát từ thần linh học đã được phổ biến ở Việt Nam sau cuộc đại chiến thế giới lần thứ nhất. Nhưng không dừng lại ở sự đam mê mà ngày càng tiến những bước xa hơn, đó là sự xuất hiện hay tiếp xúc được với Cao Đài Tiên ông, đưa ra những biểu tượng thờ Luanvanmaster.com – Cần Kham Thảo - Kết bạn Zalo/Tele : 0973.149 Viết thuê đề tài giá rẻ trọn gói - KB Zalo/Tele : 0973.149 cúng, mơ tưởng đến cảnh bồng lai, xem đó là thế giới lý tưởng mà cuộc sống loài người phải phấn đấu vươn tới. Lúc này, những yếu tố cơ bản của một tôn giáo tuy chưa hoàn chỉnh nhưng đã phôi thai hình thành trong thực tế. Sự phát hiện này đã được nhóm Lê Văn Trung, Phạm Công Tắc, Cao Quỳnh Cư, Cao Hoài Sang tích cực hưởng ứng.
Đến đêm Noel năm 1925, trong buổi cầu cơ bình thường như bao buổi khác, những người cầu đã tuyên bố Đấng thiêng liêng xuất hiện, nói rõ danh tánh là Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ tát ma-ha-tát và đã giao cho họ lập một tôn giáo mới ở phía Nam lấy tên là Cao Đài Đại đạo Tam kỳ phổ độ, gọi tắt là Cao Đài [51, tr 297]. Như vậy, Ngô Văn Chiêu đã hoàn thành sứ mạng tạo dựng ra đạo Cao Đài.