Chương 1 Điều 1 Hiến pháp năm 1946. 16 Nguyễn Quốc Tuấn (2011), “Về hiện tượng tôn giáo mới”, Nghiên cứu Tôn giáo, Số 12. 17 Nguyễn Duy Hinh (2011), Phật giáo trong văn hóa Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin Hà Nội, tr. 19 cực đến đời sống xã hội.
Các cơ quan quản lý Nhà nước gặp phải nhiều khó khăn trong ứng xử để vừa tôn trọng tự do tôn giáo lại vừa hạn chế được mặt tiêu cực của tình trạng “tôn giáo mới”. Các “hiện tượng tôn giáo mới” này vừa đáp ứng nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân và chưa xâm phạm đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và không ảnh hưởng xấu đến tính mạng, sức khỏe con người. Vì thế, Nhà nước không thể chủ quan ngăn cấm hoặc buộc người theo phải từ bỏ. Chính vì vậy, bản Hiến pháp năm 1980 chỉ qui định ngăn chặn các hành vi lợi dụng tự do tôn giáo để xâm phạm đến chính sách của Nhà nước.
Hiến pháp năm 1992 ra đời khi Việt Nam đang trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới đất nước. Điều 70 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ.
Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của nhà nước”. Ở bản Hiến pháp này, đã có sự qui định về các quyền bình đẳng của các tôn giáo trước pháp luật. Điều này cho thấy, trong thời điểm này các tôn giáo đã phát triển lớn mạnh ở Việt Nam và đã bắt đầu cần có sự điều chỉnh của pháp luật để hài hoà với sự phát triển của xã hội. Điều 24 Hiến pháp năm 2013 qui định: “1.
Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật”.
Một sửa đổi quan trọng trong Hiến pháp 2013, đó là từ chủ thể “công dân” Việt Nam nay trở thành “mọi người”. Điều này thể hiện tự do tôn giáo ngày càng được mở rộng về đối tượng, không bị giới hạn bởi quốc tịch, giới tính hay độ tuổi. Bên cạnh đó, Điều 14 Hiến pháp năm 2013: “Quyền con người, chỉ có thể bị hạn chế vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng”18. Mục đích của các hạn chế này là để tương thích giữa tự do tôn 18 Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013.
20 giáo và các quyền, tự do khác của con người, cùng sự phát triển ổn định, an ninh của xã hội. Tóm lại, thông qua Hiến pháp năm 2013, nhà nước thừa nhận, tôn trọng và cam kết đảm bảo các quyền, tự do con người theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Trong đó, tự do tôn giáo được qui định cụ thể và sâu sắc, tạo điều kiện cho tín đồ các tôn giáo và tổ chức tôn giáo hoạt động. Việt Nam là quốc gia được xếp hạng thứ ba về đa dạng tôn giáo và tín ngưỡng nhất trên thế giới.
Nguyên tắc các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật được thể hiện ở chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam và được thể chế hóa trong Hiến pháp và pháp luật. Các quy định trong các bản Hiến pháp càng về sau càng có xu hướng chi tiết hơn19. Tại Việt Nam, các tôn giáo ngày càng phát triển nhanh chóng và đa dạng. Tôn giáo đã hòa vào dòng lịch sử văn hóa Việt Nam, làm phong phú thêm nét văn hóa đa dạng của người Việt.
Cũng như mọi quốc gia trên thế giới, nhà nước Việt Nam không cho phép bất kỳ tôn giáo nào vượt ngoài pháp luật, đứng trên lợi ích, chủ quyền quốc gia. Một yêu cầu khách quan đặt ra trong đời sống tôn giáo ở Việt Nam là dù nội sinh hay ngoại sinh20, các tôn giáo muốn phát triển đều phải chịu sự quản lý của nhà nước. Xã hội ngày càng phát triển, tự do dân chủ ngày càng cao, sự đòi hỏi về tự do tôn giáo ngày càng đa dạng và phức tạp. Đặt ra yêu cầu, Nhà nước cần phải đảm bảo hoạt động tự do tôn giáo trong khuôn khổ pháp luật.
Về cơ bản, nội dung Hiến pháp Việt Nam phù hợp với các quyền, tự do cơ bản của con người được pháp luật quốc tế ghi nhận. 19 Phạm Khiêm Ích (1998), Quyền con người các văn kiện quan trọng, Viện Thông tin khoa học xã hội, tr. 20 Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2007), Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Hà Nội, tr. “Tôn giáo ngoại sinh là những tôn giáo sinh ra từ nước ngoài, như Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi giáo rồi sau đó được truyền bá vào Việt Nam; tôn giáo nội sinh là tôn giáo được hình thành ngay ở Việt Nam, như Cao Đài, Phật giáo Hoà Hảo, đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa” 21 1.
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 Tự do tôn giáo còn được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp luật quan trọng khác. Đặc biệt, nhằm đảm bảo sự tương thích, hài hoà giữa tự do tôn giáo và các quyền, tự do cơ bản khác của mọi người, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 được ban hành, điều chỉnh các qui định về tôn giáo phù hợp với tình hình đất nước. Tại kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa XIV, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 được thông qua với 9 chương, 8 mục và 68 điều. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định cụ thể trách nhiệm, thẩm quyền của Chính phủ, bộ, ngành, Ủy ban nhân dân, cơ quan quản lý Nhà nước về tôn giáo các cấp.
Luật cũng quy định rõ về quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong thực hiện tự do tôn giáo. Đây là văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất hiện nay trực tiếp điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực tôn giáo. Các nguyên tắc cơ bản về thực thi quyền này được nội luật hóa sâu sắc theo qui định của Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị mà Việt Nam là thành viên năm 1982. Luật chứa đựng nhiều qui định mới, rõ ràng hơn, tháo gỡ nhiều bất cập trong các văn bản pháp luật qui định về tôn giáo trước đó: a.
Chủ thể tự do tôn giáo được mở rộng phạm vi, từ “công dân” nay trở thành “mọi người” Khoản 1 Điều 6 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 nêu rõ: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”. Điều này phản ánh đúng bản chất của tự do tôn giáo, tương thích với Điều 24 Hiến pháp năm 2013, đồng thời, phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia. Chủ thể “công dân” Việt Nam là chủ thể gắn liền với yếu tố quốc tịch. Chủ thể “mọi người” là chủ thể không phân biệt về quốc tịch, có nghĩa là bao gồm cả người có quốc tịch Việt Nam, người không có quốc tịch và người có quốc tịch nước ngoài.
Chính vì vậy, việc mở rộng chủ thể của tự do tôn giáo trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 là một sự kiện pháp lý vô cùng quan trọng, góp phần củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, giữ vững niềm tin vào pháp luật Nhà nước của người có tôn giáo. Bên cạnh đó, qui định này cũng góp phần chống lại các hoạt động lợi dụng vấn đề tự do tôn giáo để xuyên tạc chính quyền Việt Nam. 22 Sự mở rộng đối tượng được bảo vệ tự do tôn giáo được thể hiện rõ tại khoản 2 Điều 8 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016: “Người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam có quyền: sinh hoạt tôn giáo, tham gia hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo; sử dụng địa điểm hợp pháp để sinh hoạt tôn giáo tập trung; mời chức sắc, chức việc, nhà tu hành là người Việt Nam thực hiện lễ nghi tôn giáo, giảng đạo; mời chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài giảng đạo; vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng về tôn giáo của tổ chức tôn giáo ở Việt Nam; mang theo xuất bản phẩm tôn giáo, đồ dùng tôn giáo để phục vụ nhu cầu sinh hoạt tôn giáo theo quy định của pháp luật Việt Nam”. Thêm vào đó, khoản 3 Điều 8 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016 cũng qui định: “chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được giảng đạo tại cơ sở tôn giáo hoặc địa điểm hợp pháp khác ở Việt Nam”.
Tuy nhiên, trên thực tế, các tu sĩ từ nước ngoài đến Việt Nam đều phải xin phép và thông qua sự chấp nhận của chính quyền địa phương thì mới được cư trú và hoạt động tôn giáo theo qui định dưới sự giám sát của cơ quan thẩm quyền. Đây là một hạn chế hợp lí đối với tự do tôn giáo của người không có quốc tịch Việt Nam. Đối với người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam. Khoản 1 Điều 8 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 khẳng định: “Người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”.
Nói cách khác, người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được tôn trọng và bảo hộ tự do tôn giáo bình đẳng như công dân Việt Nam. Dành một chương riêng biệt (Chương II) qui định cụ thể về tự do tôn giáo của cá nhân, tổ chức. Đối với cá nhân, khoản 3 Điều 6 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 qui định: “Mỗi người có quyền vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng của tổ chức tôn giáo. Người chưa thành niên khi vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý”.
Theo qui định này, ai cũng có quyền tham gia học tập tại cơ sở tôn giáo nếu có ý nguyện, nhưng nếu là trẻ em thì cần có sự quyết định của cha mẹ hay người giám hộ. 23 Đặc biệt, tự do tôn giáo được đảm bảo cả khi con người bị tước quyền công dân.