CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ QUYỀN CÔNG DÂN 1.1 Khái niệm về quyền con người và quyền công dân Đối với giới luật học chuyên nghiên cứu về quyền con người thì việc xác lập các quy tắc về tôn trọng và bảo đảm nhân phẩm và các quyền tự nhiên, chính đáng của con người, các cơ chế, biện pháp, chế tài để bảo đảm các quy tắc cư xử chung đó được thực hiện là vô cùng quan trọng. Thế nhưng quyền con người sẽ toàn diện và mạnh mẽ hơn khi nó gắn với quyền công dân, một phương thức đảm bảo an toàn và toàn diện cho sự phát triển của con người trong cộng đồng xã hội theo quốc gia, lãnh thổ.1 Khái niệm quyền con người (Nhân quyền) Hiện tại, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về quyền con người. Quyền con người là một phạm trù đa diện. Mỗi định nghĩa tiếp cận vấn đề từ một góc độ khác nhau, khó có thể bao quát đầy đủ các thuộc tính của nó.
Theo Văn phòng Cao ủy LHQ về quyền con người đưa ra: “Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động (action) hoặc sự bỏ mặc (omission) làm tổn hại đến nhân phẩm, tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con người.” 1 Bên cạnh đó, nhân quyền còn được định nghĩa một cách khái quát là những quyền bẩm sinh, vốn có của con người mà nếu không được hưởng thì chúng ta sẽ không thể sống như một con người.2 Hay theo Thomas Fleiner, một chuyên gia hiến pháp nổi tiếng của Thụy Sỹ và của thế giới, định nghĩa: “Các quyền con người là các quyền của con người được sống phù hợp với bản chất của họ và với những người khác”3. Một khía cạnh khác về khái niệm quyền con người từ một Giáo sư khoa Triết học của trường Đại học Tổng hợp Bắc Kinh, ông Hoàng Nam Sâm (Huang Nansen) thì “Quyền con người có thể nói một cách giản dị là những quyền cơ bản mà một con người sinh ra đã được hưởng; bao gồm, đầu tiên là quyền được sống và quyền được phát triển; sau đó là các quyền khác, chẳng hạn như quyền được 1 United Nations, Freequently Asked Questions on a Human Rights-based Approach to Development Cooperation, New York and Geneva, 2006, tr. 2 United Nations, Human Rights: Questions and Answers, New York and Geneva, 2006, tr. 3 Thomas Fleiner, What are Human Rights?, The Federation Press, 1999, p.
THẠCH HUÔN SVTH: NGUYỄN THANH TUYỀN QUYỀN CON NGƯỜI VÀ QUYỀN CÔNG DÂN TRONG LUẬT QUỐC TẾ VÀ LUẬT VIỆT NAM tham gia các hoạt động chính trị và xã hội. Trong tất cả các quyền này, quan trọng nhất là quyền bình đẳng. Quyền này thể hiện ở chỗ tất cả mọi người có thể sống như một cá nhân độc lập và quan hệ giữa con người với con người là bình đẳng, xét trên phương diện nhân phẩm.” Như vậy, quyền con người: bao gồm cả những quyền tự nhiên không thể tước đoạt, phản ánh nhu cầu thể chất và tinh thần mà ngay từ khi sinh ra mỗi cá nhân con người riêng lẻ đã phải được hưởng. Với những khái niệm trên, ta có thể hiểu nhân quyền là những giá trị đã được xã hội hóa với những thể chế thành các quyền năng cụ thể, mang tính phổ cập, cần thiết cho mọi người, không phân biệt chủng tộc, sắc tộc, tôn giáo, ngôn ngữ, giới tính,.
Và quyền con người ở đây không mang tính biên giới, không bị một giới hạn thu hẹp nào có thể xóa đi những tự do cơ bản hay sự bảo vệ thiết yếu cho nhân phẩm của một con người. Đây là khái niệm mang tầm khái quát cao, nhấn mạnh sự tôn trọng nhân quyền cho thời đại của chúng ta. Nhân quyền chính là một lĩnh vực của Quyền. Nhưng khái niệm về nhân quyền khác với khái niệm quyền ở chỗ, nhân quyền chỉ phục vụ lợi ích về vật chất hay tinh thần cho mỗi con người riêng biệt mà không gắn với họ bất kỳ một nghĩa vụ nào.
Khái niệm quyền là để chỉ cái mà luật pháp, xã hội, phong tục hay lẽ phải cho phép hưởng thụ, vận dụng, thi hành. và, khi thiếu được quyền yêu cầu để có, nếu bị tước đoạt có thể đòi hỏi để giành lại như: Quyền ứng cử và bầu cử; Khi bị hành hung thì bất kỳ ai cũng có quyền tự vệ. Quyền có nghĩa là sức mạnh được vận dụng khi thực hiện chức năng trong một lĩnh vực nhất định như: Quyền của sĩ quan chỉ huy ngoài mặt trận; Quyền lập pháp. Ở Việt Nam, một số định nghĩa về quyền con người do một số chuyên gia, cơ quan nghiên cứu từng nêu ra cũng không hoàn toàn giống nhau, nhưng nhìn chung, quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế.
Trên thực tế ở Việt Nam, bên cạnh thuật ngữ “quyền con người”, có một thuật ngữ khác cũng được sử dụng, đó là “nhân quyền”. Cả hai thuật ngữ này đều bắt nguồn từ thuật ngữ chung bằng tiếng Anh được sử dụng trong môi trường quốc tế, đó là “human rights”. Từ “human rights” trong tiếng Anh có thể được dịch là quyền con người (thuần Việt) hoặc nhân quyền (Hán - Việt). Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, “nhân quyền” chính là “quyền con người”4.
Như vậy, xét về mặt ngôn ngữ học, quyền con người và nhân quyền là hai từ đồng nghĩa, do đó, hoàn 4 Viện Ngôn ngữ học: “Đại Từ điển Tiếng Việt”, NXB Văn hoá - Thông tin, Hà Nội, năm 1999, tr. THẠCH HUÔN SVTH: NGUYỄN THANH TUYỀN QUYỀN CON NGƯỜI VÀ QUYỀN CÔNG DÂN TRONG LUẬT QUỐC TẾ VÀ LUẬT VIỆT NAM toàn có thể sử dụng cả hai từ này trong nghiên cứu, giảng dạy và hoạt động thực tiễn về nhân quyền. Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về nhân quyền. Nhưng định nghĩa mà theo người viết đồng tình nhất về nhân quyền đó là quyền căn bản mà người ta có chỉ đơn giản là vì người ta là con người.
Mà đã là con người thì bất kể màu da, tôn giáo hay giai cấp, ai cũng phải có những quyền ấy. Đó là những quyền được san sẻ một cách phổ quát, đồng đều và thiêng liêng. Phổ quát là ở đâu cũng có. Đồng đều là vì ai cũng có.
Thiêng liêng ở chỗ không ai được chiếm đoạt của người khác. Trong những quyền gọi là căn bản ấy, có các quyền chính như: Quyền được sống (right to live) Quyền được xét xử một cách công bình (right to a fair trial) Quyền được tự do ngôn luận (freedom of speech) Quyền được tự do tư tưởng và tôn giáo (freedom of thought and religion) Thiết chế nhân quyền sẽ bảo vệ cho cá nhân con người trong xã hội, bảo đảm cho họ những yêu cầu thiết yếu nhất để tồn tại và phát triển. Ở đây quyền con người mang tính công bình, bình đẳng giữa những cá nhân trong xã hội, đồng thời đây cũng là một điều hết sức cần thiết trong việc bảo đảm quyền con người trong xã hội ngày càng có quá nhiều bất công và chênh lệch. Quyền con người theo như Các Mác đã nói, nó mang tính nhân loại sâu sắc.
Có ý nghĩa hết sức to lớn đối với nhân loại. Việc không có một cách hiểu thống nhất về khái niệm quyền con người chính là điều giúp cho khái niệm này luôn được phát triển.2 Khái niệm quyền công dân Như ta đã biết khái niệm “công dân” có một nội hàm thay đổi theo chiều dài phát triển của lịch sử. Sau đây chúng ta đi tìm hiểu một số quan niệm về “công dân” của những nhà triết học Phương Tây. Trong triết học Hy Lạp cổ đại, “công dân” được hiểu là một người đàn ông tự do, là thành viên của một chế độ chính trị và có đủ phẩm chất mà chính thể đó yêu cầu.
Còn “công dân” trong thời kỳ Trung cổ lại được dùng để chỉ những người dân sống trong các pháo đài và các thành thị, những người hoạt động sản xuất thủ công và buôn bán trong các phường hội. Trong quyển thứ 3 của cuốn Politic (Chính trị), Aristotle có đưa ra một định nghĩa kinh điển về công dân thị thành (polites). Một polites là một người 5 GVHD: Ths. THẠCH HUÔN SVTH: NGUYỄN THANH TUYỀN QUYỀN CON NGƯỜI VÀ QUYỀN CÔNG DÂN TRONG LUẬT QUỐC TẾ VÀ LUẬT VIỆT NAM vừa có khả năng tham gia vào công việc cai trị, đồng thời lại vừa có khả năng bị cai trị bởi người khác.
Như vậy, trái với các lý thuyết hiện đại sau này như của Machiavelli hay của Hobbes, Aristotle không thấy có vấn đề hay không cảm thấy có trở ngại gì trong việc một công dân chuyển từ trạng thái thống trị sang trạng thái bị trị. Quan niệm của Aristotle bắt nguồn từ hiện thực lịch sử của các thị thành Hy Lạp lúc bấy giờ, khi đó mọi công dân tự mình đều phải đảm nhiệm các chức năng và các công việc lập pháp. Tuy nhiên, sau này các công dân tự do La Mã chỉ tham gia tích cực vào hoạt động chính trị trong một số trường hợp đặc biệt, còn nhìn chung, họ phải tuân thủ các quyết định có tính chất cưỡng chế của Hội đồng nguyên lão. Sự phát triển của các thị thành trong thời Trung cổ đã dẫn đến cách hiểu “công dân” theo nghĩa là những người thuộc về tầng lớp thương gia và thợ thủ công.
Cùng với sự phát triển của sản xuất và thương mại, tầng lớp “công dân” cũng ngày càng gia tăng, với những đặc trưng về tâm lý, lối sống và hệ tư tưởng cũng thay đổi như niềm tin vào sự tiến bộ, vào chủ nghĩa duy vật và các giá trị cá nhân. Từ thế kỷ XVII, vấn đề tính chủ động chính trị của công dân đã được các nhà triết học chính trị Anh đặt ra. Theo đó, chế độ chính trị không bị quy định từ trước bởi một mục đích nào đó hay bởi tôn giáo, mà do chính các hoạt động thực tế có chủ đích của con người. Chẳng hạn như Hobbes cho rằng, nhà nước là sản phẩm của hoạt động, là tác phẩm do con người tạo nên.
Song, đối với từng công dân riêng lẻ của nhà nước thì hoạt động sản sinh ra nhà nước cũng đồng thời bao hàm cả “quyền lực tự nhiên” lẫn quyền phản kháng của họ. Ngoài ra, theo Hobbes, các phẩm chất của công dân không phải là mục đích (theo như truyền thống Aristotle) mà là “phương tiện” để gìn giữ hòa bình. Học thuyết của Locke vào thế kỷ XVII đã đưa lý luận chính trị của nước Anh tiến lên một bước.