CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VE QUYEN IM LANG TRONG TỎ TỤNG HÌNH SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm quyền im lặng trong tố tụng hình sự và sự hình thành, phát triển của quyền im lặng trong tố tụng hình sự trên thế giới 1.1 Khái niệm, đặc điểm quyền im lặng trong tổ tụng hình sự Quyền duoc im lặng là một chuẩn mực đã được pháp luật của nhiều quốc gia thừa nhận, theo đó người bị cáo buộc có quyền từ chối đưa ra ý kiến hay trả lời của giới chap pháp cả trước và trong quá trình xét xử. Cụm từ tiếng La- tỉnh “nemo tenetur prodere seipsum” đã xuất hiện từ thời La Mã, có nghĩa là không ai bị ràng buộc để phản bội chính mình. Vì vậy, trong khoa học pháp lí đã tồn tại quan điểm cho rằng quyên im lặng có nguồn gốc từ luật La Mã cổ đại, xuất phát từ nguyên tắc của người La Mã và được sử dụng trong lĩnh vực dân sự, thương mại khi ở đó người ta khẳng định “trách nhiệm chứng minh thuộc bên khang định chứ không phải bên phủ định.
A khẳng định B nợ mình thì A phải chứng minh”. Ở thời kì đó, chế định này nhiều khi đã bị lợi dụng để sử dụng như là công cụ bảo vệ cho giai cấp thống trị hơn là quyền cho bat kì cá nhân nào bị buộc tội. Chế định này đảm bảo rằng chỉ khi có lí do hop li để nghỉ ngờ ai đó vi phạm pháp luật thì người đó mới có thể bị buộc trả lời những câu hỏi buộc tội. Tuy nhiên, chế định nay gan như đã bị “tê liệt” trong, các Tòa án suốt thời trung cổ, nó chỉ được phục hưng và tôn trọng kể từ các cuộc cách mạng tư sản ở châu Âu.
Sự phục hồi của quyền này dẫn đến sự ra đời của nguyên tắc khác chi phối toàn bộ pháp luật hình sự của thế giới đó là quyền không tự tổ giác. Trong thực tiễn, khi nói về quyền im lặng, người ta thường nhắc nhiều hơn đến Hoa Kỳ với câu nói “ánh có quyền im lặng” đây là câu nói băt nguôn từ vụ Miranda kiện Arizona mà sau này trở thành nguyên tắc cơ bản về quyền im lặng trong luật tố tụng hình sự của Hoa Kỳ. Từ đó cụm từ “Miranda warning” được dùng như công cụ hữu hiệu nhất để bảo vệ quyền cúa nghỉ phạm hình sự nhằm tránh việc tự buộc tội chính mình đo bị bức cung [52; tr. Cho đến nay, quyền im lặng - “right to remain silent” 14 quyén con người được thừa nhận trong pháp luật tố tụng hình sự của nhiều quốc gia trên thế giới.
Trong pháp luật của nước Mỹ, án lệ nỗi tiéng ti vu An Miranda v. Arizona nam 1966, Toa an tối cao đã quyết định về vụ an Miranda kién bang Arizona da thiét lap quyén của người bị buộc tội có quyền 1m lặng. Nói cách khách, quyền im lặng là một quyền pháp lý trong tế tụng hình sự Hoa Kỳ được tạo ra trong án lệ của Tòa án Tối cao liên bang Hoa Kỳ có tên gọi Miranda v. Cụ thể: Vu an Miranda v.
Arizona cé tinh tiết bị cáo Miranda bị bắt về tỉnh nghỉ thực hiện tội phạm bắt cóc và hiếp đâm đã tự nhận tội trong quá trình thẩm vấn. Bị cáo Miranda đã không được thông báo có quyền được im lặng, quyền mời Luật sư trợ giúp, quyền được có Luật sư chỉ định khi bị bắt và giam giữ. Đây là sự vi phạm pháp luật trong quá trình tố tụng. Có thê hiểu quyền im lặng trong pháp luật Hoa Kỳ theo những khía cạnh sau: 1hứ nhất, đây là một quyền con người trong tư pháp hình sự xuất phát từ Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787, cụ thé la Tu chính án thứ V(1).
Quyền này được giải thích bởi Tòa án Tối cao Mỹ trong vụ Miranda v. 1hứ hai, trong tố tụng hình sự, cơ quan điều tra phải thông báo quyền im lặng cho người bị buộc tội rằng họ có quyền được im lặng khi xét hỏi, người bị buộc tội có quyền mời Luật sư trước khi hoạt động thâm vẫn được thực hiện, người bị buộc tội có quyền tự nguyện từ bỏ quyền này. Thứ ba, mọi sự tự nhận tội của người bị buộc tội đều không có ý nghĩa là chứng cứ hợp pháp trước tòa khi quyền im lặng bị của họ bị vi phạm, khi trình tự thú tục tố tụng không hợp pháp “without due process of law”. Arizona đã tạo ra thú tục tố tụng hình sự bắt buộc trong pháp luật Hoa Kỳ gắn với quyền im lặng của người bị buộc tội [53; tr189].
Cảnh báo Maranda được thiết lập từ án lệ này là nghĩa vụ của cảnh sát, điều tra viên phải thông báo cho người bị buộc tội biết trước khi thẩm vấn nội dung: “Ông/bà (người bị buộc tội) được quyền im lặng, bất cứ điều gì ông/bà nói có thê là chứng cứ chống lại ông/bà trước tòa án. Ông/bà được quyền mời Luật sư trợ giúp ông/bà trước và trong suốt quá trình thảm vấn nếu ông/bà muốn. Nếu ông/bà không có khả năng mời Luật sư, ông/bà được quyền nhận sự trợ giúp của Luật sư chỉ định trước khi bắt đầu cuộc thâm vấn. Ông/bà có tự nguyện thực hiện việc trả lời việc thâm vẫn hay không?” [54].
Thủ tục cảnh bao Miranda (quyén im lang) đã trở thành điều kiện không thế thiếu trong hoạt động của cảnh sát ở Mỹ để bảo vệ quyền con người của người bị buộc tội. Thủ tục Miranda đã thực sự trở thành một phần trong văn hóa pháp lý của Mỹ và nó thỉnh thoảng được thế hiện trên tivi và phim anh [55]. Hiện nay trong luật của Hoa Kỳ và một số nước ở châu Âu, quyền im lặng không được hiểu độc lập chỉ liên quan đến hành vi im lặng của người bị buộc tội khi bị thấm vấn. Nên nhận thức quyền im lặng là quyền con người của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự gồm một nhóm quyền có mối quan hệ không thể tách rời nhau gồm: quyền được thông báo tới người bị buộc tội họ được quyền giữ im lặng khi bị thẩm vấn (right to remain silent), quyền được thông báo được mời Luật sư trước khi người bị buộc tội bị thâm vấn trong suốt quá trình tố tụng, quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội.
Khi quyền im lặng bị vi phạm thì người bị buộc tội nhận tội (self incrimination) không được cơi là chứng cứ. Trong tố tụng hình sự, nghĩa vụ chứng minh luôn thuộc về cơ quan tiến hành tế tụng. Khi xem xét quyền im lặng trên bình điện quyền con người, là một phạm trù đa diện, có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng nhìn chung. quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận, tôn trọng và báo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuân pháp lý quéc té [Error! Reference source not found.
Trong các quan hệ xã hội thông thường, nếu một bên hoặc các bén ding “im lặng” để ứng xử thì đó chỉ là biểu hiện của việc không tiếp nhận thông tin hoặc không chia sẻ thông tin cho bên còn lại. Trong tố tung dân sự, nếu một chủ thể dùng “quyền” im lặng để ứng xứ với người THTT hoặc người tham gia tố tụng khác tức là họ đã tự tước bỏ quyền của mình. Vì trước tòa nghĩa vụ chứng mỉnh thuộc về các đương sự, Hội đồng xét xử nhân danh Nhà nước chỉ làm nhiệm vụ trọng tài trung gian cho các bên trong những tranh chấp đân sự. Các đương sự phải tự chứng minh yêu cầu của minh la co cain cứ pháp luật.
Ngược lại, trong TTHS khi các cơ quan có thấm quyền THTT tiến hành các hoạt động TTHS giải quyết vụ án hình sự, người bị buộc tội được quyền im lặng —- quyền không đưa ra lời khai, chứng cứ mà theo nhận thức của họ là có thể gây bắt lợi cho mình, không nhận tội để tự bảo vệ mình trong quá trình TTHS. Người bị buộc tội có quyền nhưng không có nghĩa vụ chứng minh sự vô tội của mình. Trách nhiệm chứng minh có hay không hành vi phạm tội thuộc về Nhà nước, thuộc về cơ quan có thẩm quyền THTT. Quyền 1m lặng được thừa nhận rộng rãi là quyền cơn người cơ bản cần được pháp luật ghi nhận, bảo đảm thực hiện, đặc biệt là trong lĩnh vực tư pháp hình sự, ở đó quyền con người có nguy cơ bị xâm hại nhiều nhất trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Mặc đù cho đến nay trong các văn bản pháp luật quốc tế, pháp luật Việt Nam chưa có định nghĩa về “quyền im lặng” nhưng trong một số công ước quốc tế, văn kiện quốc tế, pháp luật của các quốc gia về quyền con người đã nhắc đến nội hàm của quyền im lặng. Khi nghiên cứu về quyên im lặng trong TTHS cần làm rõ những nội dung sau: Mội là, chủ thể được pháp luật quy định “quyền im lặng” là người bị buộc tội — bị Nhà nước tiễn hành các hoạt động TTHS để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội (pháp nhân, cá nhân phạm tội. Người bị buộc tội là những người bị các chủ thé tiến hành tố tụng có thẩm quyền áp dụng các quy định của pháp luật TTHS thông qua hình thức là các quyết định, hành vi tế tụng để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với họ. Nói cách khác, người bị buộc tội là những người được các cơ quan tiễn hành tố tụng có thâm quyền đưa vào quá trình TTHS và thuộc điện bị tình nghi phạm tội cho đến khi có bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án hoặc có quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án đúng luật của cơ quan có thắm quyền tiễn hành tố tụng.
Định nghĩa người bị buộc tội được quy định trong pháp luật TTHS và tùy theo pháp luật của mỗi quốc gia quy định phạm vi đối tượng có quyền im lặng và nội dung quyền im lặng trong pháp luật TTHS. Theo quy định của tại điểm đ khoản I Điều 4 BLTTHS Việt Nam hiện hành thì người bị buộc tội bao gồm người bị bất, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, trong đó: (1) Người bị bắt bao gồm: Bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; Bắt người phạm tội quả tang: Bắt người đang bị truy nã; Bắt bị can, bị cáo để tạm giam; Bắt người bị xem xét yêu cầu dẫn độ; Bắt tạm giam người bị yêu cầu dẫn độ: Bắt người bị dẫn độ. (2) Người bị tạm giữ là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bất trong trường hợp phạm tội quả tang.