Quyền im lặng trong tố tụng hình sự: Kinh nghiệm từ một số quốc gia và áp dụng tại Việt Nam

Luận văn thạc sĩ luật học phân tích quyền im lặng trong tố tụng hình sự tại một số quốc gia và đề xuất kinh nghiệm áp dụng cho Việt Nam.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ luật học

2022

83
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Quyền im lặng trong tố tụng hình sự Khái niệm và đặc điểm

Quyền im lặng là một quyền cơ bản trong tố tụng hình sự, được nhiều quốc gia công nhận. Nó cho phép người bị buộc tội từ chối đưa ra lời khai hoặc chứng cứ chống lại chính mình. Quyền này xuất phát từ nguyên tắc 'nemo tenetur prodere seipsum' (không ai bị buộc phải tố cáo chính mình) trong luật La Mã. Quyền im lặng đã trở thành một phần quan trọng trong hệ thống pháp luật của nhiều nước, đặc biệt là trong mô hình tố tụng tranh tụng. Tại Mỹ, quyền này được ghi nhận qua án lệ Miranda v. Arizona (1966), nơi Tòa án Tối cao Hoa Kỳ quy định rằng người bị buộc tội phải được thông báo về quyền im lặng trước khi thẩm vấn.

1.1. Sự hình thành và phát triển của quyền im lặng

Quyền im lặng đã trải qua quá trình phát triển lâu dài, từ thời La Mã cổ đại đến các cuộc cách mạng tư sản ở châu Âu. Trong thời kỳ Trung cổ, quyền này gần như bị lãng quên, nhưng đã được phục hồi và tôn trọng sau các cuộc cách mạng. Tại Mỹ, quyền im lặng được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1787, Tu chính án thứ V, và được củng cố qua án lệ Miranda. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, quyền im lặng không chỉ là một quyền pháp lý mà còn là một công cụ bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự.

1.2. Đặc điểm của quyền im lặng

Quyền im lặng bao gồm quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình, quyền được thông báo về quyền im lặng, và quyền được mời luật sư. Đây là một phần của nguyên tắc pháp lý về tố tụng hình sự công bằng. Quyền này đảm bảo rằng người bị buộc tội không bị ép buộc phải tự buộc tội mình, đồng thời nâng cao trách nhiệm chứng minh của các cơ quan tố tụng.

II. Kinh nghiệm quốc tế về quyền im lặng

Kinh nghiệm quốc tế về quyền im lặng cho thấy sự đa dạng trong cách tiếp cận và áp dụng quyền này. Tại Mỹ, quyền im lặng được ghi nhận rõ ràng qua án lệ Miranda, nơi người bị buộc tội phải được thông báo về quyền im lặng và quyền được mời luật sư. Tại Đức, quyền im lặng được coi là một phần của quyền con người và được bảo vệ chặt chẽ trong hệ thống pháp luật. Ở Nhật Bản, quyền im lặng được hiểu là quyền không buộc phải khai báo hoặc đưa ra chứng cứ chống lại chính mình.

2.1. Quyền im lặng tại Hoa Kỳ

Tại Hoa Kỳ, quyền im lặng được ghi nhận qua án lệ Miranda v. Arizona (1966). Theo đó, người bị buộc tội phải được thông báo về quyền im lặng, quyền được mời luật sư, và quyền được đại diện pháp lý trước khi thẩm vấn. Cảnh báo Miranda đã trở thành một phần không thể thiếu trong tố tụng hình sự của Mỹ, đảm bảo rằng người bị buộc tội không bị ép buộc phải tự buộc tội mình.

2.2. Quyền im lặng tại Đức và Nhật Bản

Tại Đức, quyền im lặng được coi là một phần của quyền con người và được bảo vệ chặt chẽ trong hệ thống pháp luật. Ở Nhật Bản, quyền im lặng được hiểu là quyền không buộc phải khai báo hoặc đưa ra chứng cứ chống lại chính mình. Cả hai quốc gia này đều coi trọng việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự.

III. Bài học cho Việt Nam

Việt Nam có thể học hỏi nhiều từ kinh nghiệm quốc tế về quyền im lặng. Mặc dù Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 không quy định trực tiếp về quyền im lặng, nhưng các quy định liên quan đã gián tiếp thừa nhận quyền này. Việc áp dụng quyền im lặng trong tố tụng hình sự Việt Nam cần được nghiên cứu kỹ lưỡng để đảm bảo quyền con ngườiquyền lợi hợp pháp của người bị buộc tội.

3.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật

Việt Nam cần hoàn thiện hệ thống pháp luật để ghi nhận và bảo vệ quyền im lặng một cách rõ ràng. Điều này bao gồm việc sửa đổi Bộ luật Tố tụng Hình sự để quy định cụ thể về quyền im lặng, đồng thời đảm bảo rằng người bị buộc tội được thông báo đầy đủ về quyền này trước khi thẩm vấn.

3.2. Nâng cao nhận thức và thực thi quyền im lặng

Việc nâng cao nhận thức về quyền im lặng trong tố tụng hình sự là cần thiết. Các cơ quan tố tụng cần được đào tạo để hiểu và tôn trọng quyền này, đồng thời đảm bảo rằng người bị buộc tội không bị ép buộc phải tự buộc tội mình. Thực tiễn pháp lý cho thấy, việc áp dụng quyền im lặng sẽ góp phần nâng cao tính công bằng và minh bạch trong tố tụng hình sự Việt Nam.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VE QUYEN IM LANG TRONG TỎ TỤNG HÌNH SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm quyền im lặng trong tố tụng hình sự và sự hình thành, phát triển của quyền im lặng trong tố tụng hình sự trên thế giới 1.1 Khái niệm, đặc điểm quyền im lặng trong tổ tụng hình sự Quyền duoc im lặng là một chuẩn mực đã được pháp luật của nhiều quốc gia thừa nhận, theo đó người bị cáo buộc có quyền từ chối đưa ra ý kiến hay trả lời của giới chap pháp cả trước và trong quá trình xét xử. Cụm từ tiếng La- tỉnh “nemo tenetur prodere seipsum” đã xuất hiện từ thời La Mã, có nghĩa là không ai bị ràng buộc để phản bội chính mình. Vì vậy, trong khoa học pháp lí đã tồn tại quan điểm cho rằng quyên im lặng có nguồn gốc từ luật La Mã cổ đại, xuất phát từ nguyên tắc của người La Mã và được sử dụng trong lĩnh vực dân sự, thương mại khi ở đó người ta khẳng định “trách nhiệm chứng minh thuộc bên khang định chứ không phải bên phủ định.

A khẳng định B nợ mình thì A phải chứng minh”. Ở thời kì đó, chế định này nhiều khi đã bị lợi dụng để sử dụng như là công cụ bảo vệ cho giai cấp thống trị hơn là quyền cho bat kì cá nhân nào bị buộc tội. Chế định này đảm bảo rằng chỉ khi có lí do hop li để nghỉ ngờ ai đó vi phạm pháp luật thì người đó mới có thể bị buộc trả lời những câu hỏi buộc tội. Tuy nhiên, chế định nay gan như đã bị “tê liệt” trong, các Tòa án suốt thời trung cổ, nó chỉ được phục hưng và tôn trọng kể từ các cuộc cách mạng tư sản ở châu Âu.

Sự phục hồi của quyền này dẫn đến sự ra đời của nguyên tắc khác chi phối toàn bộ pháp luật hình sự của thế giới đó là quyền không tự tổ giác. Trong thực tiễn, khi nói về quyền im lặng, người ta thường nhắc nhiều hơn đến Hoa Kỳ với câu nói “ánh có quyền im lặng” đây là câu nói băt nguôn từ vụ Miranda kiện Arizona mà sau này trở thành nguyên tắc cơ bản về quyền im lặng trong luật tố tụng hình sự của Hoa Kỳ. Từ đó cụm từ “Miranda warning” được dùng như công cụ hữu hiệu nhất để bảo vệ quyền cúa nghỉ phạm hình sự nhằm tránh việc tự buộc tội chính mình đo bị bức cung [52; tr. Cho đến nay, quyền im lặng - “right to remain silent” 14 quyén con người được thừa nhận trong pháp luật tố tụng hình sự của nhiều quốc gia trên thế giới.

Trong pháp luật của nước Mỹ, án lệ nỗi tiéng ti vu An Miranda v. Arizona nam 1966, Toa an tối cao đã quyết định về vụ an Miranda kién bang Arizona da thiét lap quyén của người bị buộc tội có quyền 1m lặng. Nói cách khách, quyền im lặng là một quyền pháp lý trong tế tụng hình sự Hoa Kỳ được tạo ra trong án lệ của Tòa án Tối cao liên bang Hoa Kỳ có tên gọi Miranda v. Cụ thể: Vu an Miranda v.

Arizona cé tinh tiết bị cáo Miranda bị bắt về tỉnh nghỉ thực hiện tội phạm bắt cóc và hiếp đâm đã tự nhận tội trong quá trình thẩm vấn. Bị cáo Miranda đã không được thông báo có quyền được im lặng, quyền mời Luật sư trợ giúp, quyền được có Luật sư chỉ định khi bị bắt và giam giữ. Đây là sự vi phạm pháp luật trong quá trình tố tụng. Có thê hiểu quyền im lặng trong pháp luật Hoa Kỳ theo những khía cạnh sau: 1hứ nhất, đây là một quyền con người trong tư pháp hình sự xuất phát từ Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787, cụ thé la Tu chính án thứ V(1).

Quyền này được giải thích bởi Tòa án Tối cao Mỹ trong vụ Miranda v. 1hứ hai, trong tố tụng hình sự, cơ quan điều tra phải thông báo quyền im lặng cho người bị buộc tội rằng họ có quyền được im lặng khi xét hỏi, người bị buộc tội có quyền mời Luật sư trước khi hoạt động thâm vẫn được thực hiện, người bị buộc tội có quyền tự nguyện từ bỏ quyền này. Thứ ba, mọi sự tự nhận tội của người bị buộc tội đều không có ý nghĩa là chứng cứ hợp pháp trước tòa khi quyền im lặng bị của họ bị vi phạm, khi trình tự thú tục tố tụng không hợp pháp “without due process of law”. Arizona đã tạo ra thú tục tố tụng hình sự bắt buộc trong pháp luật Hoa Kỳ gắn với quyền im lặng của người bị buộc tội [53; tr189].

Cảnh báo Maranda được thiết lập từ án lệ này là nghĩa vụ của cảnh sát, điều tra viên phải thông báo cho người bị buộc tội biết trước khi thẩm vấn nội dung: “Ông/bà (người bị buộc tội) được quyền im lặng, bất cứ điều gì ông/bà nói có thê là chứng cứ chống lại ông/bà trước tòa án. Ông/bà được quyền mời Luật sư trợ giúp ông/bà trước và trong suốt quá trình thảm vấn nếu ông/bà muốn. Nếu ông/bà không có khả năng mời Luật sư, ông/bà được quyền nhận sự trợ giúp của Luật sư chỉ định trước khi bắt đầu cuộc thâm vấn. Ông/bà có tự nguyện thực hiện việc trả lời việc thâm vẫn hay không?” [54].

Thủ tục cảnh bao Miranda (quyén im lang) đã trở thành điều kiện không thế thiếu trong hoạt động của cảnh sát ở Mỹ để bảo vệ quyền con người của người bị buộc tội. Thủ tục Miranda đã thực sự trở thành một phần trong văn hóa pháp lý của Mỹ và nó thỉnh thoảng được thế hiện trên tivi và phim anh [55]. Hiện nay trong luật của Hoa Kỳ và một số nước ở châu Âu, quyền im lặng không được hiểu độc lập chỉ liên quan đến hành vi im lặng của người bị buộc tội khi bị thấm vấn. Nên nhận thức quyền im lặng là quyền con người của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự gồm một nhóm quyền có mối quan hệ không thể tách rời nhau gồm: quyền được thông báo tới người bị buộc tội họ được quyền giữ im lặng khi bị thẩm vấn (right to remain silent), quyền được thông báo được mời Luật sư trước khi người bị buộc tội bị thâm vấn trong suốt quá trình tố tụng, quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội.

Khi quyền im lặng bị vi phạm thì người bị buộc tội nhận tội (self incrimination) không được cơi là chứng cứ. Trong tố tụng hình sự, nghĩa vụ chứng minh luôn thuộc về cơ quan tiến hành tế tụng. Khi xem xét quyền im lặng trên bình điện quyền con người, là một phạm trù đa diện, có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng nhìn chung. quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận, tôn trọng và báo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuân pháp lý quéc té [Error! Reference source not found.

Trong các quan hệ xã hội thông thường, nếu một bên hoặc các bén ding “im lặng” để ứng xử thì đó chỉ là biểu hiện của việc không tiếp nhận thông tin hoặc không chia sẻ thông tin cho bên còn lại. Trong tố tung dân sự, nếu một chủ thể dùng “quyền” im lặng để ứng xứ với người THTT hoặc người tham gia tố tụng khác tức là họ đã tự tước bỏ quyền của mình. Vì trước tòa nghĩa vụ chứng mỉnh thuộc về các đương sự, Hội đồng xét xử nhân danh Nhà nước chỉ làm nhiệm vụ trọng tài trung gian cho các bên trong những tranh chấp đân sự. Các đương sự phải tự chứng minh yêu cầu của minh la co cain cứ pháp luật.

Ngược lại, trong TTHS khi các cơ quan có thấm quyền THTT tiến hành các hoạt động TTHS giải quyết vụ án hình sự, người bị buộc tội được quyền im lặng —- quyền không đưa ra lời khai, chứng cứ mà theo nhận thức của họ là có thể gây bắt lợi cho mình, không nhận tội để tự bảo vệ mình trong quá trình TTHS. Người bị buộc tội có quyền nhưng không có nghĩa vụ chứng minh sự vô tội của mình. Trách nhiệm chứng minh có hay không hành vi phạm tội thuộc về Nhà nước, thuộc về cơ quan có thẩm quyền THTT. Quyền 1m lặng được thừa nhận rộng rãi là quyền cơn người cơ bản cần được pháp luật ghi nhận, bảo đảm thực hiện, đặc biệt là trong lĩnh vực tư pháp hình sự, ở đó quyền con người có nguy cơ bị xâm hại nhiều nhất trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.

Mặc đù cho đến nay trong các văn bản pháp luật quốc tế, pháp luật Việt Nam chưa có định nghĩa về “quyền im lặng” nhưng trong một số công ước quốc tế, văn kiện quốc tế, pháp luật của các quốc gia về quyền con người đã nhắc đến nội hàm của quyền im lặng. Khi nghiên cứu về quyên im lặng trong TTHS cần làm rõ những nội dung sau: Mội là, chủ thể được pháp luật quy định “quyền im lặng” là người bị buộc tội — bị Nhà nước tiễn hành các hoạt động TTHS để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội (pháp nhân, cá nhân phạm tội. Người bị buộc tội là những người bị các chủ thé tiến hành tố tụng có thẩm quyền áp dụng các quy định của pháp luật TTHS thông qua hình thức là các quyết định, hành vi tế tụng để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với họ. Nói cách khác, người bị buộc tội là những người được các cơ quan tiễn hành tố tụng có thâm quyền đưa vào quá trình TTHS và thuộc điện bị tình nghi phạm tội cho đến khi có bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án hoặc có quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án đúng luật của cơ quan có thắm quyền tiễn hành tố tụng.

Định nghĩa người bị buộc tội được quy định trong pháp luật TTHS và tùy theo pháp luật của mỗi quốc gia quy định phạm vi đối tượng có quyền im lặng và nội dung quyền im lặng trong pháp luật TTHS. Theo quy định của tại điểm đ khoản I Điều 4 BLTTHS Việt Nam hiện hành thì người bị buộc tội bao gồm người bị bất, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, trong đó: (1) Người bị bắt bao gồm: Bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; Bắt người phạm tội quả tang: Bắt người đang bị truy nã; Bắt bị can, bị cáo để tạm giam; Bắt người bị xem xét yêu cầu dẫn độ; Bắt tạm giam người bị yêu cầu dẫn độ: Bắt người bị dẫn độ. (2) Người bị tạm giữ là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bất trong trường hợp phạm tội quả tang.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Quyền im lặng trong tố tụng hình sự: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quyền im lặng của bị cáo trong quá trình tố tụng hình sự, một khía cạnh quan trọng nhằm bảo vệ quyền lợi của người bị buộc tội. Tác giả phân tích các kinh nghiệm quốc tế và đưa ra những bài học quý giá cho Việt Nam, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đảm bảo quyền này trong hệ thống pháp luật. Độc giả sẽ nhận thấy rằng việc hiểu rõ quyền im lặng không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi cá nhân mà còn góp phần nâng cao tính công bằng trong xét xử hình sự.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến tố tụng hình sự, bạn có thể tham khảo các tài liệu như Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội trong giai đoạn xét xử sơ thẩm và thực tiễn tại thành phố Yên Bái, nơi đề cập đến quyền bào chữa trong tố tụng hình sự, hay Bảo đảm quyền tranh tụng tại phiên tòa hình sự phúc thẩm từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh, tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quyền tranh tụng trong các phiên tòa. Cuối cùng, Bảo đảm quyền của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự cũng là một nguồn tài liệu hữu ích để tìm hiểu về quyền của bị cáo trong quá trình xét xử. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về quyền lợi trong tố tụng hình sự.