Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học "Hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự về quyền của bị can, bị cáo" do nghiên cứu sinh Nguyễn Sơn Hà thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Hoàng Thị Minh Sơn, bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội (Bộ Giáo dục và Đào tạo – Bộ Tư pháp) năm 2015, thuộc chuyên ngành Luật Hình sự và tố tụng hình sự (mã số: 62.04).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Tố tụng hình sự (TTHS) là lĩnh vực hoạt động đặc biệt thể hiện quyền lực nhà nước nhằm xử lý tội phạm. Hoạt động này cho phép các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) áp dụng các biện pháp cưỡng chế để làm rõ sự thật khách quan của vụ án. Tuy nhiên, việc hạn chế quyền công dân nếu không tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật sẽ trở thành mối đe dọa thực tế đối với quyền con người.
Mặc dù Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 đã ghi nhận nhiều nguyên tắc tiến bộ, hệ thống quy phạm về quyền của bị can, bị cáo vẫn bộc lộ nhiều điểm chưa đầy đủ, thiếu chặt chẽ và chưa tương thích hoàn toàn với các chuẩn mực quốc tế. Trong thực tiễn áp dụng từ năm 2004 đến năm 2014, các cơ quan tiến hành tố tụng còn bộc lộ nhiều bất cập:
- Tỷ lệ áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với bị can, bị cáo chiếm mức rất cao (86,4%).
- Tình trạng trả hồ sơ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng còn lớn: Tòa án trả hồ sơ cho Viện kiểm sát 26.413 vụ (chiếm 3,6%); Viện kiểm sát trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra 24.597 vụ (chiếm 3,65%).
- Tình trạng oan sai vẫn xảy ra: trong 11 năm có 1.863 bị can phải đình chỉ điều tra vì không phạm tội (chiếm 0,09%).
- Hoạt động tham gia tố tụng của người bào chữa ở nhiều địa phương còn gặp cản trở; chế độ tạm giữ, tạm giam chưa bảo đảm đầy đủ theo luật định.
Về bối cảnh chính trị – pháp lý, Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đặt ra yêu cầu hoàn thiện thủ tục tố tụng tư pháp, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch và tôn trọng quyền con người. Đồng thời, Hiến pháp năm 2013 lần đầu tiên tách bạch chế định quyền con người (tại Chương 2) với quyền công dân. Do đó, việc nghiên cứu một cách trực diện, chuyên sâu và có hệ thống về quyền của bị can, bị cáo là yêu cầu cấp thiết để phục vụ quá trình sửa đổi toàn diện BLTTHS năm 2003.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ các vấn đề lý luận về quyền của bị can, bị cáo; phân tích thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện quyền của bị can, bị cáo trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử; từ đó đề xuất các kiến giải lập pháp hoàn thiện BLTTHS năm 2003 và nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền của các chủ thể này.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Một là: Làm rõ khái niệm bị can, bị cáo; quyền của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam; phân tích nội dung, đặc điểm, cơ chế hình thành các quyền; làm sáng tỏ khái niệm hoàn thiện các quy định của BLTTHS về quyền của bị can, bị cáo.
- Hai là: Khái quát hóa các quy định về quyền của bị can, bị cáo trong lịch sử TTHS Việt Nam từ năm 1945 đến nay; phân tích các chuẩn mực trong pháp luật quốc tế và pháp luật TTHS của một số quốc gia trên thế giới nhằm rút ra những giá trị hợp lý.
- Ba là: Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của BLTTHS hiện hành liên quan đến quyền của bị can, bị cáo để chỉ ra những vướng mắc, hạn chế, bất cập.
- Bốn là: Đánh giá thực trạng thi hành các quy định pháp luật về quyền của bị can, bị cáo thông qua phân tích số liệu thống kê tư pháp 11 năm (2004–2014), khảo sát 500 bản án sơ thẩm, điều tra xã hội học và phỏng vấn các nhóm chủ thể; xác định nguyên nhân của các hạn chế làm cơ sở cho các kiến nghị hoàn thiện.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các quy định trong BLTTHS điều chỉnh quyền và cơ chế bảo đảm quyền của bị can, bị cáo; thực tiễn áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng và việc thực hiện quyền của bị can, bị cáo trong quá trình TTHS.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào các quy định của BLTTHS năm 2003 điều chỉnh quyền của bị can, bị cáo phát sinh từ thời điểm có quyết định khởi tố bị can cho đến khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc vụ án/bị can được đình chỉ; đối chiếu với quy định giai đoạn trước và sau BLTTHS năm 1988, pháp luật quốc tế và pháp luật một số nước. Luận án không nghiên cứu các quyền cơ bản ngoài TTHS của công dân; không nghiên cứu hoạt động tố tụng của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân, Viện kiểm sát quân sự và Tòa án quân sự.
- Phạm vi không gian và thời gian: Phạm vi nghiên cứu thực tiễn trên toàn quốc, mốc thời gian từ khi BLTTHS năm 2003 có hiệu lực (01/7/2004) đến hết năm 2014.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trong nước
Luận án đã tổng quan và phân loại các công trình khoa học trong nước thành các nhóm nghiên cứu chính:
- Nhóm nghiên cứu về quyền con người chung trong hoạt động tư pháp: Luận án tiến sĩ của Nguyễn Huy Hoàn về bảo đảm quyền con người trong hoạt động tư pháp; bài viết của Nguyễn Quang Hiền (2004) về pháp luật bảo vệ quyền con người; công trình của Đinh Thế Hưng và Trần Xuân Thái (2011) về cơ chế bảo đảm quyền con người bằng Tòa án.
- Nhóm nghiên cứu chuyên sâu về quyền con người của bị can, bị cáo trong TTHS: Luận án tiến sĩ của Lại Văn Trình (2011) tại Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh; đề tài cấp trường của Trường Đại học Luật Hà Nội do TS. Phan Thanh Mai chủ nhiệm (2011) gồm các chuyên đề nghiên cứu của Đỗ Thị Phượng, Tô Văn Hòa, Nguyễn Thị Hồi, Phan Thanh Mai, Vũ Gia Lâm, Bùi Kiên Điện, Phan Thị Thanh Mai, Nguyễn Hải Ninh, Mai Thanh Hiếu, Chu Mạnh Hùng; đề tài cấp Bộ do Viện Khoa học Kiểm sát (VKSNDTC) nghiệm thu năm 2011; luận án tiến sĩ của Nguyễn Quang Hiền; sách chuyên khảo của TS. Trần Quang Tiệp; các bài viết của GS.TSKH Lê Văn Cảm (2010), PGS.TS Nguyễn Thái Phúc (2006, 2010), PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí (2007, 2009, 2010, 2011), PGS.TS Trần Văn Độ (2010), PGS.TS Phạm Hồng Hải (2009), ThS. Chu Thị Trang Vân và ThS. Đinh Thế Hưng (2010).
- Nhóm nghiên cứu về các nguyên tắc TTHS gắn với quyền của bị can, bị cáo: Các bài viết của PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí (2008) về hoàn thiện nguyên tắc cơ bản; PGS.TS Phạm Văn Tỉnh (2010) và TS. Nguyễn Quang Hiền (2010) về nguyên tắc suy đoán vô tội; TS. Nguyễn Cảnh Hợp (2001); ThS. Đinh Thế Hưng (2009); GS. Lê Văn Cảm (2011) về nguyên tắc tranh tụng; PGS.TS Phạm Hồng Hải (2003) về nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập.
- Nhóm nghiên cứu về các quyền cụ thể (bào chữa, biện pháp ngăn chặn): Luận án tiến sĩ và các bài viết của PGS.TS Hoàng Thị Minh Sơn (2000, 2002, 2003, 2011, 2014); công trình của TS. Trương Thị Hồng Hà (2009); bài nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Thái Phúc (2007) về sự tham gia bắt buộc của người bào chữa; các công trình của PGS.TS Phạm Hồng Hải (1999, 2004), ThS. Nguyễn Duy Hưng (2004), ThS. Nguyễn Tiến Đạt (2006).
Các hướng nghiên cứu quốc tế và pháp luật nước ngoài
- Về pháp luật quốc tế: Giáo trình do GS. Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng đồng chủ biên (2009) phân tích Tuyên ngôn thế giới về quyền con người 1948 (UDHR), Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị 1966 (ICCPR), Công ước chống tra tấn 1984 (CAT); các bài viết của TS. Tường Duy Kiên (2006), ThS. Lương Thị Mỹ Quỳnh, ThS. Chu Mạnh Hùng (2011), Nguyễn Sơn Hà (2013).
- Tài liệu nước ngoài: Sổ tay hướng dẫn của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về quyền con người và Hội Luật gia quốc tế (TS. Nguyễn Đức Thủy dịch, 2009); tài liệu "What is a fair trial?" của Ủy ban Luật sư nhân quyền Hoa Kỳ (2000); luận án tiến sĩ của Sivasubramaniam, Bahma tại Đại học Durham (2013); tuyển tập tiểu luận về Công ước Châu Âu của Loukis G. Loucaides (2007); công trình nghiên cứu hành vi cảnh sát của Gould, Jon B. và Mastrofski (2004); các nghiên cứu của Neil Andrews, K. Starmer.
- Pháp luật TTHS các nước: Công trình của GS.TSKH Lê Văn Cảm về pháp luật Liên bang Nga (2010); tài liệu của James Wood và Christopher Maxwell về bang New South Wales, Australia (2010); các chuyên đề trong Thông tin Khoa học Kiểm sát (2013) nghiên cứu pháp luật Trung Quốc, Nga, Pháp, Đức, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Anh của Hoàng Thị Quỳnh Chi, Nguyễn Trọng Vĩnh, Mai Thanh Hiếu, Nguyễn Thị Thu Quy, Lại Thị Thu Hà, Hoàng Anh Tuyên, Phạm Thị Thùy Linh.
Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết
Hầu hết các công trình trước đây tiếp cận quyền con người ở phạm vi rộng đối với mọi chủ thể hoặc trong toàn bộ hoạt động tư pháp, chưa đi sâu vào địa vị pháp lý chuyên biệt của bị can, bị cáo; các nghiên cứu quốc tế dừng lại ở việc giới thiệu văn bản mà chưa so sánh, đối chiếu cụ thể với thực tiễn lập pháp Việt Nam. Luận án định vị là công trình nghiên cứu trực diện, toàn diện và có hệ thống về quyền của bị can, bị cáo, kết hợp giữa lý luận, kinh nghiệm quốc tế và phân tích thực chứng giai đoạn 2004–2014 để xây dựng hệ thống kiến giải lập pháp cụ thể cho việc sửa đổi BLTTHS.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; các quan điểm cải cách tư pháp của Đảng theo Nghị quyết 49/NQ-TW và các quy định của Hiến pháp năm 2013.
- Cơ sở lý thuyết về nhân quyền: Phân tích sự phát triển giữa học thuyết quyền tự nhiên và học thuyết tính Nhà nước của quyền con người; áp dụng định nghĩa quyền của Liên hợp quốc và phân loại quyền theo hai nhóm cơ bản (dân sự – chính trị và kinh tế – xã hội – văn hóa), xác định quyền của bị can, bị cáo mang tính chất đặc thù thuộc nhóm quyền dân sự, chính trị phát sinh qua các quyết định tố tụng hình sự.
- Luận án xây dựng và chuẩn hóa hai khái niệm khoa học trung tâm:
- Bị can: Là người bị tình nghi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được ghi nhận trong pháp luật hình sự, đã bị cơ quan có thẩm quyền khởi tố và có quyết định phê chuẩn của Viện kiểm sát để điều tra làm rõ hành vi phạm tội, phải chịu sự tác động về mặt pháp lý và có thể bị áp dụng những biện pháp cưỡng chế cần thiết được quy định trong pháp luật TTHS (gồm 5 đặc điểm nội hàm).
- Bị cáo: Là người bị tình nghi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, được ghi nhận trong pháp luật hình sự, đã bị Viện kiểm sát truy tố bằng bản cáo trạng hoặc quyết định truy tố và được Tòa án quyết định đưa ra xét xử; phải chịu sự tác động về mặt pháp lý và có thể bị áp dụng những biện pháp cưỡng chế cần thiết được quy định trong pháp luật TTHS (gồm 5 đặc điểm nội hàm).
Phương pháp nghiên cứu thực tế
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, quy nạp và so sánh luật học: Sử dụng chủ yếu tại Chương 1 và Chương 2 để phân tích lịch sử lập pháp (Sắc lệnh số 13 ngày 24/01/1946, Thông tư số 16/TATC ngày 27/9/1974, BLTTHS 1988, BLTTHS 2003) và so sánh các điều ước quốc tế (UDHR, ICCPR, CAT) cùng pháp luật của các quốc gia như Nga, Đức, Australia, Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Nhật Bản, Trung Quốc.
- Phương pháp thống kê và khảo sát thực tiễn: Sử dụng tại Chương 3 và Chương 4 nhằm xử lý các báo cáo nghiệp vụ và dữ liệu thống kê xét xử, kiểm sát, điều tra từ ngày 01/7/2004 đến 31/12/2014.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Phân tích mẫu nghiên cứu ngẫu nhiên 500 bản án hình sự sơ thẩm và khảo sát lấy ý kiến thực tế thông qua 4 bộ phiếu điều tra dành cho: (1) Người tiến hành tố tụng; (2) Người bào chữa; (3) Công dân; (4) Phỏng vấn trực tiếp bị can, bị cáo.
- Phương pháp hội thảo khoa học: Thu thập ý kiến của các chuyên gia, nhà khoa học và cán bộ thực tiễn.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Báo cáo tổng kết, chuyên đề của TANDTC, VKSNDTC, Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương.
- Hệ thống dữ liệu gồm 15 bảng và biểu đồ số liệu thống kê tư pháp 11 năm (Phụ lục số 1).
- Kết quả xử lý 5 phụ lục điều tra xã hội học (Phụ lục số 2a đến 2đ).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu khoa học trong nước và quốc tế liên quan đến đề tài. Tác giả chỉ ra rằng các công trình đã công bố chủ yếu nghiên cứu bảo đảm quyền con người dưới góc độ tiếp cận chung hoặc đi sâu vào từng giai đoạn tố tụng riêng biệt (điều tra, truy tố, xét xử), từng chế định độc lập (biện pháp ngăn chặn, quyền bào chữa) mà chưa có công trình nào nghiên cứu trực diện, đồng bộ về địa vị pháp lý và quyền của bị can, bị cáo trong toàn bộ tiến trình tố tụng. Trên cơ sở đó, chương này xác định rõ các khoảng trống nghiên cứu cần giải quyết về lý luận, thực tiễn thi hành và kiến nghị sửa đổi pháp luật.
Chương 2: Những vấn đề lý luận hoàn thiện các quy phạm về quyền của bị can, bị cáo trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
Chương 2 tập trung giải quyết cơ sở lý luận về quyền của bị can, bị cáo:
- Phân tích nguồn gốc hình thành thuật ngữ "bị can", "bị cáo" trong lịch sử tư pháp Việt Nam (Sắc lệnh số 13/1946, Thông tư 16/TATC/1974, BLTTHS 1988 và khoản 1 Điều 49, khoản 1 Điều 50 BLTTHS 2003).
- Luận giải cơ chế hình thành quyền của bị can, bị cáo: xác định đây là nhóm quyền dân sự – chính trị mang tính đặc thù, chỉ phát sinh khi có quyết định tố tụng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Phân tích nội hàm quyền của bị can theo khoản 2 Điều 49 và quyền của bị cáo theo khoản 2 Điều 50 BLTTHS 2003, cùng các quyền liên quan được quy định tại các Điều 4, 10, 18, 19, 24, 30, 200, 214, 215.
- Điểm cứu các chuẩn mực quốc tế về quyền xét xử công bằng, quyền không bị tra tấn, quyền không bị bắt giam tùy tiện theo UDHR 1948, ICCPR 1966, CAT 1984 và kinh nghiệm lập pháp của các nước (Nga, Đức, Australia, Hoa Kỳ, Nhật Bản) như quyền im lặng, quyền được thông báo căn cứ buộc tội, ghi âm quá trình hỏi cung.
Chương 3: Thực trạng quyền của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam
Chương 3 phân tích thực trạng các quy định pháp luật thực định và đánh giá thực tiễn áp dụng trong giai đoạn 2004–2014. Tác giả phân tích dữ liệu từ 15 bảng thống kê tư pháp và chỉ ra các tồn tại nổi bật:
| Chỉ số thực tiễn TTHS (Giai đoạn 2004–2014) |
Số lượng / Tỷ lệ thực tế |
| Tỷ lệ bị can, bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam |
86,4% |
| Số vụ Tòa án trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung |
26.413 vụ (chiếm 3,6%) |
| Số vụ Viện kiểm sát trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung |
24.597 vụ (chiếm 3,65%) |
| Số bị can bị đình chỉ điều tra vì không phạm tội (oan sai) |
1.863 bị can (chiếm 0,09%) |
| Quy mô bản án sơ thẩm được nghiên cứu ngẫu nhiên |
500 bản án |
Chương này làm rõ nguyên nhân của những hạn chế, bao gồm: sự thiếu đồng bộ và thiếu chặt chẽ của các điều luật; nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận người tiến hành tố tụng chưa cao; việc lạm dụng biện pháp tạm giam; rào cản trong thủ tục cấp giấy chứng nhận người bào chữa; điều kiện cơ sở vật chất phục vụ giam giữ và xét hỏi còn thiếu thốn.
Chương 4: Những kiến giải lập pháp hoàn thiện các quy định về quyền của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam
Chương 4 đưa ra các nhóm giải pháp lập pháp cụ thể:
- Sửa đổi, bổ sung trực tiếp khoản 2 Điều 49 và khoản 2 Điều 50 BLTTHS 2003:
- Bổ sung quyền được thông báo về việc buộc tội và nhận các văn bản tố tụng kèm theo chứng cứ buộc tội.
- Bổ sung quyền im lặng (không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc nhận tội).
- Mở rộng quyền thu thập, đưa ra chứng cứ và quyền yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ.
- Hoàn thiện quyền tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa; quy định rõ thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng ngay từ khi lập biên bản bắt giữ hoặc tống đạt quyết định khởi tố.
- Hoàn thiện hệ thống các nguyên tắc cơ bản của TTHS:
- Bổ sung nguyên tắc bảo đảm tính công khai, minh bạch trong mọi hoạt động của cơ quan và người tiến hành tố tụng.
- Thể chế hóa đầy đủ nguyên tắc tranh tụng trong xét xử; quy định rõ phán quyết của Tòa án phải căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
- Hoàn thiện nguyên tắc suy đoán vô tội, nguyên tắc xác định sự thật khách quan của vụ án và nguyên tắc thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Xây dựng hệ thống khái niệm khoa học hoàn chỉnh và xác định rõ 5 đặc điểm nội hàm cơ bản của hai khái niệm "bị can" và "bị cáo".
- Luận giải cơ chế hình thành quyền của bị can, bị cáo dưới giác độ quyền con người và quyền công dân trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa quyền của bị can, bị cáo với việc bảo đảm lợi ích của Nhà nước và xã hội trong hoạt động tư pháp hình sự.
- Hệ thống hóa các giá trị tiến bộ của pháp luật quốc tế (UDHR, ICCPR, CAT) và pháp luật TTHS các nước về bảo đảm quyền của người bị buộc tội, xác định các nội dung phù hợp có thể tiếp thu vào thực tiễn lập pháp Việt Nam.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn và kiến nghị
- Cung cấp bức tranh thực chứng toàn diện về thực trạng áp dụng pháp luật đối với bị can, bị cáo tại Việt Nam trong 11 năm (2004–2014) thông qua hệ thống 15 bảng số liệu thống kê và kết quả khảo sát điều tra xã hội học đối với 4 nhóm chủ thể.
- Đề xuất sửa đổi, bổ sung cụ thể các điều luật trong BLTTHS năm 2003, đặc biệt là chế định quyền của bị can (khoản 2 Điều 49), quyền của bị cáo (khoản 2 Điều 50), chế định người bào chữa và chế định biện pháp ngăn chặn.
- Kiến nghị hoàn thiện và bổ sung các nguyên tắc cơ bản của TTHS: nguyên tắc suy đoán vô tội, nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa, nguyên tắc công khai minh bạch trong hoạt động tố tụng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi khảo sát thực tiễn trong giai đoạn thi hành BLTTHS năm 2003 (từ ngày 01/7/2004 đến hết năm 2014); không nghiên cứu hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng trong Quân đội nhân dân (Cơ quan điều tra hình sự quân đội, Viện kiểm sát quân sự, Tòa án quân sự); không đi sâu vào các quyền dân sự tổng quát ngoài phạm vi tố tụng hình sự.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Nghiên cứu đánh giá sự tương thích và hiệu quả thi hành sau khi các đề xuất lập pháp được đưa vào đạo luật tố tụng hình sự mới (sửa đổi năm 2015); nghiên cứu mở rộng cơ chế bảo đảm quyền của người bị buộc tội trong hệ thống cơ quan tư pháp quân sự; nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật bảo đảm quyền như ghi âm, ghi hình có âm thanh trong quá trình hỏi cung bị can.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan lập pháp: Luận án là tài liệu tham khảo trực tiếp phục vụ việc soạn thảo, sửa đổi, bổ sung toàn diện BLTTHS năm 2003, thể chế hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 và Nghị quyết 49/NQ-TW của Bộ Chính trị.
- Đối với cơ quan và người tiến hành tố tụng: Cung cấp cơ sở khoa học giúp Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán nhận thức đúng đắn, đầy đủ về quyền của bị can, bị cáo, qua đó nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật, hạn chế bức cung, nhục hình, lạm dụng tạm giam và làm giảm oan sai.
- Đối với hoạt động nghiên cứu và đào tạo: Là nguồn tài liệu phục vụ công tác nghiên cứu, biên soạn giáo trình và giảng dạy môn Luật Tố tụng hình sự tại các cơ sở đào tạo chuyên ngành luật như Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Học viện Tư pháp.
- Đối với đội ngũ luật sư và người bào chữa: Cung cấp luận cứ lý luận và thực tiễn để nâng cao chất lượng tranh tụng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo trong các giai đoạn tố tụng.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa như thế nào về khái niệm bị can và bị cáo?
Luận án xác định bị can là người bị tình nghi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được ghi nhận trong pháp luật hình sự, đã bị cơ quan có thẩm quyền khởi tố và có quyết định phê chuẩn của Viện kiểm sát để điều tra, phải chịu sự tác động pháp lý và có thể bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế theo luật định. Bị cáo là người bị tình nghi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã bị Viện kiểm sát truy tố bằng bản cáo trạng hoặc quyết định truy tố và được Tòa án quyết định đưa ra xét xử, phải chịu tác động pháp lý và các biện pháp cưỡng chế tố tụng.
2. Thực trạng áp dụng biện pháp tạm giam trong giai đoạn 2004–2014 được luận án chỉ ra ra sao?
Theo số liệu thống kê trong 11 năm (2004–2014) được luận án tổng hợp, tỷ lệ bị can, bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam chiếm mức rất cao, lên tới 86,4% tổng số vụ án giải quyết, cho thấy việc lạm dụng biện pháp tạm giam trong thực tiễn điều tra và truy tố vẫn còn phổ biến.
3. Thực trạng trả hồ sơ để điều tra bổ sung giữa các cơ quan tố tụng giai đoạn 2004–2014 như thế nào?
Số liệu thống kê 11 năm cho thấy: Tòa án trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung là 26.413 vụ (chiếm 3,6%); Viện kiểm sát trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung là 24.597 vụ (chiếm 3,65%).
4. Luận án ghi nhận bao nhiêu trường hợp bị can bị đình chỉ điều tra vì không phạm tội?
Trong giai đoạn từ năm 2004 đến hết năm 2014, các cơ quan tiến hành tố tụng đã phải ra quyết định đình chỉ điều tra đối với 1.863 bị can vì lý do không phạm tội (chiếm tỷ lệ 0,09% trên tổng số bị can khởi tố), phản ánh tình trạng oan sai vẫn còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng pháp luật.
5. Những quyền trọng tâm nào được đề xuất bổ sung cho bị can, bị cáo tại Điều 49 và Điều 50?
Luận án đề xuất bổ sung quyền được thông báo về việc buộc tội và tiếp cận chứng cứ buộc tội; quyền im lặng (không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình); quyền được thu thập và đưa ra tài liệu, đồ vật chứng cứ; quyền có người bào chữa tham gia ngay từ thời điểm bắt giữ hoặc tống đạt quyết định khởi tố; quyền được giải thích đầy đủ các bảo đảm tố tụng.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Sơn Hà đã nghiên cứu có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam. Dựa trên việc phân tích hệ thống dữ liệu tư pháp 11 năm (2004–2014), khảo sát 500 bản án sơ thẩm và các chuẩn mực quốc tế, công trình đã làm rõ những bất cập trong quy định của BLTTHS năm 2003 và thực tiễn áp dụng. Các kiến giải lập pháp được luận án đề xuất góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho quá trình sửa đổi toàn diện Bộ luật Tố tụng hình sự, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và bảo vệ quyền con người theo Hiến pháp năm 2013.