Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI CƯỚP TÀI SẢN 1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của việc quy định tội cướp tài sản 1. Khái niệm tội phạm và tội cướp tài sản Khái niệm tội phạm Có rất nhiều cách định nghĩa về tội phạm. Điều 14 Bộ luật hình sự Cộng hòa liên bang Nga năm 1996, sửa đổi năm 2010 quy định: “Tội phạm là hành vi có lỗi gây nguy hiểm cho xã hội, bị cấm bởi Bộ luật hình sự và phải chịu hình phạt.
Điều 13 Bộ luật hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1997, sửa đổi năm 2005 quy định: “Mọi hành vi gây nguy hại đến chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia; chia cắt quốc gia; lật đổ chính quyền chuyên chính dân chủ nhân dân và xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa; phá hoại trật tự kinh tế xã hội; xâm phạm tài sản thuộc sở hữu nhà nước và tài sản thuộc sở hữu tập thể của quần chúng lao động; xâm phạm tài sản thuộc sở hữu riêng của công dân; xâm phạm các quyền nhân thân dân chủ và các quyền khác của công dân cũng như các hành vi khác gây nguy hại cho xã hội được quy định là tội phạm. Những hành vi nhỏ nhặt gây hại không lớn thì không phải là tội phạm” [5]. Căn cứ Khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015, định nghĩa về tội phạm như sau: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ 7 quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự. Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 và Nghị quyết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự xây dựng khái niệm tội phạm đã có sự thay đổi theo hướng bổ sung thêm quy định đối với pháp nhân thương mại, đồng thời bổ sung trường hợp xâm phạm quyền con người.
Khái niệm tội phạm theo BLHS 2015 có thể được coi là khái niệm cơ bản nhất trong luật hình sự Việt Nam. Khái niệm này một mặt là cơ sở thống nhất cho việc xác định những tội phạm cụ thể trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự, mặt khác trực tiếp thể hiện một cách rõ nét những nguyên tắc cơ bản của luật hình sự Việt Nam. Khái niệm tội cướp tài sản Tội cướp tài sản được quy định tại Điều 168 BLHS năm 2015, sửa đổi 2017. Theo đó, người có hành vi cướp tài sản được hiểu là: Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản.
Về biểu hiện hành vi, nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng tội cướp tài sản thường xuất hiện với một số hành vi phổ biến [2], đó là: (1) Hành vi dùng vũ lực làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản: hành vi này được hiểu là hành vi dùng sức mạnh vật chất (có hoặc không sử dụng công cụ, phương tiện phạm tội như dao, súng. trợ giúp) tác động đến thân thể người bị tấn công (thường là người chủ tài sản hoặc người có trách nhiệm quản lí, bảo vệ tài sản 8 làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm. Thông qua việc tấn công, người phạm tội bộc lộ ý muốn và mục đích làm tê liệt sự chống cự của người bị tấn công, làm cho khả năng thực tế của sự chống cự không thể xảy ra hoặc làm cho người bị tấn công bị tê liệt về ý chí, không dám kháng cự” [24]. Ví dụ: làm cho người bị tấn công bị thương tích, bị trói lại, bị nhốt lại thậm chí bị giết chết nhằm chiếm đoạt tài sản.
Khi người bị tấn công đã (bị trói, bị thương, bị chết, bị tước tự do.) như vậy chính là họ đã "lâm vào tình trạng không thể chống cự được" mà điều luật quy định. Tiêu chí này cũng là cơ sở để phân biệt hành vi mức độ nguy hiểm của hành vi dùng vũ lực trong tội cướp tài sản và hành vi dùng vũ lực trong tội cướp giật tài sản (Điều 171 BLHS). Vì vậy nếu hành vi dùng vũ lực mà không làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được, "không đến mức làm tê liệt ý chí phản kháng của nạn nhân hoặc làm cho sự phản kháng không thể xảy ra nhằm chiếm đoạt tài sản như định (mong muốn) đánh, bắn, chém. bị thương người khác nhằm chiếm đoạt tài sản của họ nhưng lại bắn chệch hoặc bị người này tránh được và ngăn chặn hay chống lại được và cũng không chiếm đoạt được tài sản là trường hợp phạm tội chưa đạt [17].
(2) Hành vi đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản: đây là trường hợp người phạm tội dùng lời lẽ nhằm đe doạ (dọa giết chết, dọa gây thương tích hoặc tổn hại sức khoẻ) hoặc cử chỉ (dí dao, súng vào người) hoặc và thường là kết hợp cả hai (có lời nói, cử chi đe doạ và kèm theo công cụ, phương tiện trợ giúp) dọa sẽ dùng vũ lực ngay tức khắc nếu người bị tấn công (người chủ tài sản người quản lí tài sản, người thân của người chủ tài sản.) chống cự lại. Bằng hành vi đe dọa, ví dụ: dọa đâm, chém hay bắn chết ngay. như vậy, người phạm tội vừa mong muốn và thực tế khống chế được ý 9 chí của người bị tấn công, làm cho người bị tấn công bị tê liệt ý chí kháng cự, người bị tấn công sợ bị giết chết ngay, sợ bị gây thương tích ngay hoặc sợ quá mà bị ngất, bị chết nên không có điều kiện kháng cự lại. Khi đạt được những mục đích như vậy, tội cướp tài sản được coi là hoàn thành.
Khi người bị tấn công không chống cự như vậy chính là dấu hiệu quan trọng cho phép phân biệt hành vi “đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc” trong tội cướp tài sản có dấu hiệu này với hành vi “đe doạ sẽ dùng vũ lực” trong tội cưỡng đoạt tải sản không có dấu hiệu này mà chỉ có khả năng khống chế ý chí của người bị đe dọa, người bị đe doạ vẫn có điều kiện suy nghĩ, cân nhắc để lựa chọn việc chống lại nếu muốn. Ở tội cưỡng đoạt tài sản người phạm tội không nhằm (mong muốn) làm cho người bị đe doạ lâm vào tình trạng không thể chống cự được và thực tế người bị tấn công cũng không bị tê liệt ý chí - không lâm vào tình trạng không thể chống cự được. Những trường hợp khác có thể coi là phạm tội chưa đạt như: dùng súng giả dọa bắn chết ngay nhằm. nhưng người bị đe doạ nhận thức được đó là súng giả và chống cự lại; hoặc dọa đâm, bắn chết ngay nhằm… nhưng người bị tấn công do có võ đã gạt được dao, súng vô hiệu hoá và bắt giữ được kẻ tấn công.
Ví dụ: Hành vi đầu độc bằng thuốc ngủ, hành vi dùng thuốc gây mê, hành vi dùng rượu hoặc chất kích thích khác đầu độc làm mất khả năng phản kháng của người bị tấn công là những trường hợp cụ thể của hành vi khác nói trong điều luật. Cũng như các hành vi dùng vũ lực và hành vi đe doạ dùng vũ lực ngay túc khắc, hành vi khác này dù dưới hình thức cụ thể nào cũng đều phải làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống 10 cự được nhằm. mới thoả mãn dấu hiệu hành vi khách quan của tội cướp tài sản và tội phạm được coi là hoàn thành. Còn nếu đã có hành vi khác nào đó mà chưa làm cho nạn nhân lâm vào tình trạng không thể chống cự được (ví dụ: đã bỏ thuốc mê, thuốc độc.
nhưng nạn nhân chưa ăn, chưa uống phải thuốc mê, thuốc độc đó hoặc thuốc độc sử dụng để đầu độc là thuốc giả nên người bị tấn công tuy đã uống nhưng không bị lâm vào tình trạng không thể chống cự được và người phạm tội cũng chưa chiếm đoạt được tài sản) thì phải coi đây là trường hợp phạm tội chưa đạt. Đặc điểm tội cướp tài sản Từ định nghĩa kể trên, cũng cho thấy tội cướp tài sản mang những đặc điểm cơ bản: Thứ nhất, tội cướp tài sản là hành vi nguy hiểm cho cộng đồng và xã hội, đe dọa an ninh, sức khỏe, tính mạng và tài sản của nhân dân. Hành vi tội phạm cướp tài sản là hành vi trực tiếp dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực gây ra những thiệt hại thực tế về tài sản, sức khỏe, tinh thần đáng kể cho bị hại và xã hội. Căn cứ vào nội dung, tính chất của quan hệ xã hội mà luật hình sự bảo vệ, tính chất và mức độ lỗi, thủ đoạn, động cơ , mục đích, nhân thân người phạm tội… và đặt những căn cứ này vào mối liên hệ thống nhất với nhau, tội phạm cướp tài sản xâm phạm trực tiếp tới quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe và tài sản của công dân.
Thứ hai, tội cướp tài sản là hành vi có lỗi của người thực hành. Theo lý luận, lỗi được hiểu là trạng thái tâm lý bên trong của những người có hành vi vi phạm pháp luật hoặc tội phạm đối với hành vi trái pháp luật và gây nguy hiểm cho xã hội của mình, cũng như cảm giác phát sinh đối với hậu quả do hành vi đó gây ra. Tội phạm cướp tài sản gây thiệt hại được coi là có lỗi cố ý trực tiếp bởi chủ thể đã lựa chọn, quyết định thực hiện hành 11 vi đó khi đủ điều kiện lựa chọn và quyết định thực hiện hành vi đó khi có điều kiện lựa chọn và quyết định xử sự khác không có hại cho xã hội. Thứ ba, tội cướp tài sản là hành vi trái pháp luật Hình sự.
Một hành vi gây nguy hiểm cho xã hội nhưng không đươc quy định trong pháp luật Hình sự thì không được coi là tội phạm.