Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế, tài chính, văn hóa lớn nằm ở phía Nam Việt Nam, có quy mô dân số và mật độ đô thị hóa cao nhất cả nước (tính đến ngày 01/04/2014, dân số đạt 7,955 triệu người, chiếm 8,79% dân số cả nước; diện tích 2.095 km² với 24 quận, huyện). Giai đoạn 2011 – 2015, thành phố đón lượng lớn khách du lịch; riêng năm 2015 đón 19,3 triệu lượt khách nội địa và 4,6 triệu lượt khách quốc tế (chiếm 57% lượt khách quốc tế đến Việt Nam), doanh thu du lịch đạt 94.600 tỷ đồng (chiếm 9,88% GDP thành phố). Tuy nhiên, tình hình tội phạm diễn biến phức tạp, trong đó tội phạm xâm phạm sở hữu, đặc biệt là cướp giật tài sản, chiếm tỷ trọng cao. Trong tổng số 28.448 vụ phạm pháp hình sự giai đoạn 2011 – 2015, tội phạm cướp giật tài sản xảy ra 5.609 vụ (chiếm 19,71%), trung bình cứ 5 ngày có một vụ xảy ra.

Tội phạm cướp giật tài sản có xu hướng chuyển từ hoạt động đơn lẻ sang tổ chức băng nhóm, sử dụng phương tiện xe máy phân khối lớn, mang theo hung khí, dàn cảnh va chạm giao thông hoặc nhắm vào du khách nước ngoài tại các khu vực trung tâm. Thực trạng này gây ảnh hưởng trực tiếp đến trật tự an toàn xã hội, tính mạng, tài sản của người dân và hình ảnh du lịch của thành phố.

Mục tiêu nghiên cứu: Phân tích toàn diện tình hình tội phạm cướp giật tài sản trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2011 – 2015, làm rõ nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm và đánh giá thực trạng hoạt động phòng ngừa của các cơ quan tiến hành tố tụng, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm trong thời gian tới.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Trình bày và phân tích tình hình tội phạm cướp giật tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2011 – 2015 thông qua các thông số: thực trạng, cơ cấu, động thái và tính chất.
  2. Phân tích các nhóm nguyên nhân và điều kiện dẫn đến tình hình tội phạm cướp giật tài sản trên địa bàn.
  3. Khái quát lý luận về phòng ngừa tội phạm và làm rõ thực trạng hoạt động phòng ngừa của lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội (Công an TP.HCM), Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân hai cấp tại TP.HCM.
  4. Dự báo diễn biến tình hình tội phạm cướp giật tài sản và đề xuất hệ thống giải pháp phòng ngừa xã hội, cưỡng chế và nghiệp vụ chuyên ngành.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tình hình tội phạm cướp giật tài sản (bao gồm hành vi xâm hại người dân và người nước ngoài), nguyên nhân, điều kiện của tội phạm, thực trạng hoạt động phòng ngừa của các cơ quan chức năng và các giải pháp phòng ngừa.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập và phân tích dữ liệu thực tiễn trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015 (số liệu Công an tính từ 01/12/2010 đến 15/11/2015; số liệu Tòa án tính từ 01/01/2011 đến 31/12/2015).
  • Phạm vi không gian: Địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (24 quận, huyện).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung pháp lý:

  • Hệ thống quan điểm, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nguồn gốc, bản chất của tội phạm và đấu tranh phòng chống tội phạm trong xây dựng nhà nước pháp quyền.
  • Lý luận Tội phạm học về tình hình tội phạm (thực trạng, cơ cấu, động thái, tính chất), nguyên nhân và điều kiện của tội phạm cụ thể, nhân thân người phạm tội, tình huống khách quan và khía cạnh nạn nhân.
  • Khung pháp luật hình sự và tố tụng hình sự Việt Nam: Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) — trọng tâm là Điều 136 về Tội cướp giật tài sản; Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; các văn bản pháp luật quy định chức năng, nhiệm vụ phòng ngừa tội phạm của Công an, Viện kiểm sát và Tòa án.

Phương pháp nghiên cứu: Khóa luận sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành:

  • Phương pháp thống kê tội phạm học và xử lý số liệu: Tập hợp, xử lý các chuỗi số liệu về số vụ, số đối tượng, tỷ lệ khám phá, cơ cấu độ tuổi, giới tính, mức hình phạt, địa bàn gây án.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Đánh giá các tài liệu lý luận, báo cáo tổng kết thực tiễn và các vụ án cụ thể.
  • Phương pháp so sánh: Đối chiếu cơ cấu tội cướp giật tài sản với các tội xâm phạm sở hữu khác (cướp tài sản, trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản); so sánh mức độ biến động giữa các năm trong giai đoạn 2011 – 2015.
  • Phương pháp nghiên cứu hồ sơ vụ án cụ thể (khảo sát án điển hình): Phân tích 11 bản án sơ thẩm hình sự có hiệu lực pháp luật với 15 bị cáo và 14 bị hại để làm rõ phương thức, thủ đoạn, hoàn cảnh phạm tội và khía cạnh nạn nhân.
  • Phương pháp biểu đồ, mô tả hóa dữ liệu: Trực quan hóa biến động số liệu qua bảng tổng hợp và biểu đồ hình cột, hình tròn.

Nguồn dữ liệu: Số liệu thống kê chính thức từ Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội (PC45) Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Tòa án nhân dân các quận/huyện (Quận 1, Quận 3, Quận 8, Quận 10, Quận 12, Tân Bình, Gò Vấp, Bình Chánh...), các bản án sơ thẩm và tài liệu công bố từ Tổng cục Thống kê.


Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Tình hình tội phạm cướp giật tài sản trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2011 – 2015

Chương I phân tích diễn biến tội phạm cướp giật tài sản (CGTS) tại TP.HCM qua bốn thông số cơ bản của tội phạm học:

  • Thực trạng: Giai đoạn 2011 – 2015, toàn thành phố xảy ra 28.448 vụ phạm pháp hình sự (PPHS), khám phá 19.337 vụ (đạt 67,97%), bắt 24.017 đối tượng. Riêng tội phạm CGTS xảy ra 5.609 vụ, khám phá 4.623 vụ (đạt 82,42%), bắt 6.156 đối tượng. Tội phạm CGTS nhằm vào người nước ngoài (NNN) xảy ra 516 vụ, khám phá 278 vụ (đạt 53,86%), bắt 356 đối tượng. Số đối tượng bị bắt luôn lớn hơn số vụ khám phá (năm 2015: 795 vụ khám phá nhưng bắt 1.030 đối tượng), phản ánh rõ tính chất hoạt động đồng phạm, băng nhóm.
  • Cơ cấu:
    • Trong nhóm tội xâm phạm sở hữu: Tội CGTS (5.609 vụ, chiếm 23,35%) đứng thứ hai sau tội trộm cắp tài sản (15.232 vụ, chiếm 63,41%), cao hơn tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (1.617 vụ, chiếm 6,73%) và tội cướp tài sản (1.564 vụ, chiếm 6,51%).
    • Phương thức thực hiện: Tội phạm CGTS có sử dụng phương tiện (chủ yếu là xe mô tô, xe gắn máy) chiếm 5.129 vụ trên tổng số 5.609 vụ, đạt tỷ lệ 91,44%.
    • Đặc điểm nhân thân người phạm tội (theo 6.825 bị cáo xét xử sơ thẩm): Nam giới chiếm áp đảo với 6.735 đối tượng (98,68%), nữ giới có 90 đối tượng (1,32%). Về độ tuổi, nhóm từ đủ 18 đến dưới 30 tuổi chiếm 2.017 đối tượng (29,55%); nhóm từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi chiếm 347 đối tượng (5,08%); nhóm từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi chiếm 39 đối tượng (0,57%).
  • Động thái: Số vụ CGTS biến động qua các năm: năm 2011 có 1.265 vụ; năm 2012 giảm xuống 1.119 vụ; năm 2013 giảm còn 1.086 vụ; năm 2014 tăng lên 1.136 vụ (tăng 4,60%); năm 2015 giảm xuống 1.003 vụ (giảm 10,65%). Trong khi đó, tội phạm CGTS đối với người nước ngoài có chiều hướng gia tăng liên tục từ 67 vụ (2011) lên 89 vụ (2012), 98 vụ (2013), đạt đỉnh 141 vụ (2014) và ghi nhận 121 vụ vào năm 2015.
  • Tính chất: Mức độ nguy hiểm tăng lên thể hiện qua kết quả xét xử sơ thẩm 4.833 vụ án với 6.825 bị cáo: phạt tù từ 3 đến 7 năm chiếm đa số (3.283 bị cáo - 48,10%); phạt tù dưới 3 năm (3.172 bị cáo - 46,48%); phạt tù từ 7 đến 15 năm (120 bị cáo - 1,76%); phạt tù từ 15 đến 20 năm (12 bị cáo); tù chung thân (1 bị cáo, áp dụng năm 2015). Tỷ lệ đối tượng tái phạm là 320/6.825 đối tượng (4,69%); số người phạm tội nghiện ma túy có 36 đối tượng (0,53%).
Tiêu chí thống kê (2011 – 2015) Tổng số vụ / Đối tượng Tỷ lệ (%)
Tổng số vụ phạm pháp hình sự (PPHS) 28.448 vụ 100%
- Số vụ PPHS được điều tra khám phá 19.337 vụ 67,97%
- Tổng số đối tượng PPHS bị bắt giữ 24.017 đối tượng -
Tổng số vụ cướp giật tài sản (CGTS) 5.609 vụ 19,71% / tổng PPHS
- Số vụ CGTS được điều tra khám phá 4.623 vụ 82,42% / tổng CGTS
- Số đối tượng CGTS bị bắt giữ 6.156 đối tượng -
CGTS người nước ngoài (NNN) 516 vụ 9,20% / tổng CGTS
- Số vụ CGTS NNN được điều tra khám phá 278 vụ 53,86% / tổng CGTS NNN
- Số đối tượng CGTS NNN bị bắt giữ 356 đối tượng -
CGTS có sử dụng phương tiện 5.129 vụ 91,44% / tổng CGTS
Bị cáo CGTS xét xử sơ thẩm (TAND) 6.825 bị cáo (4.833 vụ) 100%
- Giới tính: Nam / Nữ 6.735 nam / 90 nữ 98,68% nam / 1,32% nữ
- Hình phạt: Án treo 267 bị cáo 3,91%
- Hình phạt: Cải tạo không giam giữ 1 bị cáo 0,01%
- Hình phạt: Tù dưới 3 năm 3.172 bị cáo 46,48%
- Hình phạt: Tù từ 3 đến 7 năm 3.283 bị cáo 48,10%
- Hình phạt: Tù từ 7 đến 15 năm 120 bị cáo 1,76%
- Hình phạt: Tù từ 15 đến 20 năm 12 bị cáo 0,18%
- Hình phạt: Tù chung thân 1 bị cáo 0,01%

Chương II: Nguyên nhân và điều kiện của tội phạm cướp giật tài sản trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Chương II phân tích hệ thống các yếu tố cấu thành nguyên nhân và điều kiện làm phát sinh, phát triển tội phạm CGTS:

  • Nhóm nguyên nhân, điều kiện thuộc về nhân thân người phạm tội:
    • Đặc điểm sinh học và tâm lý: Đối tượng chủ yếu là nam giới trẻ tuổi, có sức khỏe, liều lĩnh; tâm lý thực dụng, lười lao động, thích hưởng thụ, tiêm nhiễm thói hư tật xấu và coi thường pháp luật. Người chưa thành niên (14 đến dưới 18 tuổi) thiếu kỹ năng sống, nhận thức chưa hoàn thiện, dễ bị lôi kéo.
    • Đặc điểm xã hội: Trình độ học vấn thấp (trong 11 bản án khảo sát: 4 đối tượng trình độ tiểu học, 7 đối tượng THCS, 4 đối tượng THPT). Tình trạng thất nghiệp cao (10/15 bị cáo không có việc làm ổn định, số còn lại làm thuê hoặc phụ việc thời vụ). Hoàn cảnh gia đình khiếm khuyết (bố mẹ ly hôn, qua đời, thiếu quản lý, nuông chiều hoặc gia đình có người vi phạm pháp luật; 47/6.825 bị cáo phạm tội xuất phát từ sự thiếu quan tâm của gia đình).
  • Nhóm nguyên nhân, điều kiện thuộc về tình huống khách quan hỗ trợ:
    • Thời gian gây án: Tội phạm xảy ra chủ yếu vào khoảng thời gian từ 18 giờ đến 24 giờ (chiếm 7/11 vụ án điển hình) và từ 10 giờ đến 18 giờ (4/11 vụ án). Khung giờ đêm tối đường phố vắng người, thiếu ánh sáng trong các hẻm, lực lượng chức năng mỏng tạo điều kiện cho đối tượng hành động và tẩu thoát.
    • Địa bàn gây án: Tập trung tại các quận trung tâm, mật độ giao thông đông đúc và nhiều điểm du lịch. Quận 1 dẫn đầu với 569 vụ (10,14%), tiếp theo là quận Tân Bình với 552 vụ (9,84%), Quận 10 với 305 vụ (5,44%), Quận 3 với 301 vụ (5,37%); trong khi các huyện ngoại thành có số vụ thấp hơn nhiều (huyện Bình Chánh: 132 vụ - 2,40%). Các tuyến đường trọng điểm tại Quận 1 gồm: Nguyễn Huệ, Đồng Khởi, Lê Lợi, Hai Bà Trưng, Phạm Ngũ Lão, Bùi Viện và khu vực chợ Bến Thành.
    • Khía cạnh nạn nhân: 9/14 nạn nhân trong 11 bản án khảo sát là nữ giới do khả năng tự vệ yếu và thường mang trang sức giá trị. Nạn nhân có nhiều sơ hở trong quản lý tài sản: vừa lái xe vừa nghe điện thoại, để tài sản trong túi quần nhô ra ngoài, treo túi xách/laptop ở ba-ga xe. Đối với khách du lịch nước ngoài, việc không thông thạo địa bàn, mất cảnh giác khi chụp ảnh, dùng điện thoại nơi công cộng khiến họ trở thành mục tiêu tiếp cận. Ngoài ra, tâm lý "của đi thay người", ngại thủ tục tố tụng dẫn đến việc nạn nhân không trình báo, tạo ra tỷ lệ "tội phạm ẩn".
  • Nhóm nguyên nhân, điều kiện kinh tế - xã hội khác: Phân hóa giàu nghèo sâu sắc, sức ép đô thị hóa và dòng người nhập cư không tìm được việc làm; tác động tiêu cực từ văn hóa phẩm bạo lực, đồi trụy; sự lan rộng của tệ nạn xã hội như ma túy, cờ bạc, cá độ bóng đá và các cơ sở kinh doanh dịch vụ nhạy cảm.
  • Nhóm nguyên nhân từ hệ thống pháp luật và cơ chế thực thi: Tồn tại bất cập trong kỹ thuật lập pháp tại Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009): Khung hình phạt khoản 1 quy định từ 1 năm đến 5 năm tù; khoản 2 quy định từ 3 năm đến 10 năm tù. Sự giao thoa mức án từ 3 năm đến 5 năm tù giữa hai khoản dẫn đến sự thiếu thống nhất trong thực tiễn áp dụng hình phạt giữa các cấp Tòa án.

Chương III: Hoạt động phòng ngừa tội phạm cướp giật tài sản trên địa bàn TP. Dự báo tình hình tội phạm và giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa trong thời gian tới

Chương III hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá thực tiễn hoạt động phòng ngừa của các cơ quan chức năng và đề xuất giải pháp:

  • Khái niệm và cơ sở pháp lý: Hoạt động phòng ngừa tội phạm cướp giật tài sản là hệ thống các biện pháp kinh tế, xã hội, giáo dục, pháp luật và nghiệp vụ do các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và công dân tiến hành nhằm triệt tiêu các nguyên nhân, điều kiện của tội phạm, ngăn chặn không để tội phạm xảy ra.
  • Thực trạng phòng ngừa của các cơ quan tiến hành tố tụng:
    • Lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về TTXH (PC45) Công an TP.HCM: Đã triển khai tuần tra kiểm soát, quản lý địa bàn trọng điểm, triệt phá các băng nhóm chuyên nghiệp, phối hợp các đơn vị nghiệp vụ xử lý 5.609 vụ việc. Tuy nhiên, tỷ lệ điều tra khám phá đối với các vụ cướp giật tài sản người nước ngoài còn hạn chế (đạt 53,86%), việc kiểm soát phương tiện độ chế, gắn biển số giả chưa triệt để.
    • Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM: Thực hiện quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử các vụ án cướp giật tài sản, hạn chế oan sai, kiến nghị khắc phục sơ hở trong quản lý đô thị.
    • Tòa án nhân dân hai cấp TP.HCM: Xét xử sơ thẩm nghiêm minh 4.833 vụ án, áp dụng hình phạt tù có thời hạn và tù chung thân đối với các trường hợp nghiêm trọng, kết hợp tổ chức các phiên tòa lưu động nhằm răn đe và giáo dục pháp luật tại cộng đồng.
  • Dự báo tình hình: Tội phạm CGTS trên địa bàn thành phố tiếp tục tiềm ẩn diễn biến phức tạp, các đối tượng gia tăng tính chất manh động, thủ đoạn dàn cảnh tinh vi, tận dụng mạng xã hội và phương tiện cơ giới phân khối lớn, đặc biệt là nguy cơ gia tăng các vụ án xâm phạm tài sản của người nước ngoài tại các địa bàn trung tâm.
  • Hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa:
    • Nhóm giải pháp phòng ngừa xã hội: Đẩy mạnh phát triển kinh tế, giải quyết việc làm cho thanh thiếu niên; tăng cường giáo dục pháp luật, đạo đức trong gia đình và nhà trường; quản lý chặt chẽ các đối tượng sau cai nghiện, người chấp hành xong án phạt tù; tuyên truyền nâng cao ý thức cảnh giác tự bảo vệ tài sản cho nhân dân và khách du lịch.
    • Nhóm giải pháp phòng ngừa cưỡng chế và hoàn thiện pháp luật: Kiến nghị sửa đổi, hoàn thiện quy định về các khung hình phạt tại Điều 136 BLHS nhằm xóa bỏ sự trùng lặp mức án giữa các khoản, đảm bảo tính phân hóa tội phạm minh bạch.
    • Nhóm giải pháp nghiệp vụ của ngành Công an (PC45): Tăng cường tuần tra vũ trang công khai kết hợp trinh sát mật phục trong khung giờ 18h - 24h tại các tuyến đường trọng điểm Quận 1, Quận 3, Tân Bình; rà soát, quản lý chặt chẽ các điểm sửa xe độ, lò độ xe, các cơ sở cầm đồ tiêu thụ tài sản gian; ứng dụng hệ thống camera giám sát an ninh đô thị.
    • Giải pháp của Viện kiểm sát và Tòa án nhân dân: Nâng cao chất lượng kiểm sát điều tra, đẩy nhanh tiến độ thụ lý, phối hợp tổ chức các phiên tòa xét xử lưu động các vụ án CGTS điển hình nhằm răn đe tội phạm.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả nghiên cứu chính:
    • Tổng hợp và xử lý toàn diện chuỗi dữ liệu thực tế 5 năm (2011 – 2015) về tội phạm cướp giật tài sản tại TP.HCM: 5.609 vụ CGTS (chiếm 19,71% tổng PPHS), khám phá 4.623 vụ (82,42%), bắt 6.156 đối tượng.
    • Xác định tỷ lệ CGTS người nước ngoài gồm 516 vụ (khám phá 278 vụ - 53,86%, bắt 356 đối tượng); CGTS có phương tiện cơ giới chiếm tới 91,44% (5.129 vụ).
    • Phân tích cơ cấu 6.825 bị cáo xét xử sơ thẩm: nam giới chiếm 98,68%, độ tuổi 18 – 30 tuổi chiếm 29,55%, mức án từ 3 đến 7 năm tù chiếm 48,10%.
    • Xác định địa bàn trọng điểm là Quận 1 (569 vụ - 10,14%) và quận Tân Bình (552 vụ - 9,84%); khung giờ gây án phổ biến từ 18 giờ đến 24 giờ.
    • Chỉ ra điểm chồng lấn mức phạt (từ 3 đến 5 năm tù) giữa khoản 1 và khoản 2 Điều 136 BLHS năm 1999 (sửa đổi 2009).
  • Đóng góp của khóa luận:
    • Là công trình nghiên cứu toàn diện ở cấp độ cử nhân luật kết hợp đồng thời hai góc độ Pháp luật Hình sự và Tội phạm học về tội phạm cướp giật tài sản tại địa bàn đô thị đặc thù TP.HCM.
    • Đánh giá hoạt động phòng ngừa đồng bộ ở cả ba cơ quan tư pháp (Công an, Viện kiểm sát, Tòa án) thay vì chỉ tiếp cận đơn lẻ từ phía lực lượng Công an.
    • Cung cấp luận cứ thực tiễn làm rõ "khía cạnh nạn nhân" đối với du khách quốc tế và đề xuất hệ thống giải pháp phòng ngừa đa tầng (xã hội, nghiệp vụ, lập pháp).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Dữ liệu nghiên cứu phản ánh tình hình tội phạm giai đoạn 2011 – 2015 dựa trên các vụ việc được phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử; chưa thể lượng hóa đầy đủ số lượng "tội phạm ẩn" do các trường hợp người bị hại không trình báo cơ quan công an.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tiếp tục nghiên cứu, đánh giá sự thay đổi của tội phạm cướp giật tài sản dưới sự điều chỉnh của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thay thế cho BLHS 1999.
    • Mở rộng nghiên cứu tác động của hệ thống camera giám sát thông minh và cơ chế phối hợp tuần tra liên lực lượng trong mô hình đô thị thông minh tại TP.HCM.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Hình sự, Tội phạm học, Điều tra hình sự; cán bộ thực tiễn công tác tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân tại các đô thị lớn.
  • Phần nội dung có giá trị tham khảo cao: Hệ thống số liệu thống kê tội phạm học tại 9 bảng dữ liệu (đặc biệt là bảng cơ cấu tội phạm sở hữu, phương tiện gây án, địa bàn quận/huyện, kết quả xét xử sơ thẩm); phương pháp phân tích mối quan hệ giữa tình huống khách quan, đặc điểm nhân thân và khía cạnh nạn nhân.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ điều tra khám phá tội phạm cướp giật tài sản tại TP.HCM giai đoạn 2011 – 2015 đạt mức bao nhiêu?
Trong giai đoạn 2011 – 2015, lực lượng Công an TP.HCM đã thụ lý 5.609 vụ cướp giật tài sản, điều tra khám phá 4.623 vụ, đạt tỷ lệ 82,42% và bắt giữ 6.156 đối tượng.

2. Tội phạm cướp giật tài sản đối với người nước ngoài (NNN) tại TP.HCM diễn biến như thế nào?
Giai đoạn 2011 – 2015 ghi nhận 516 vụ CGTS người nước ngoài, điều tra khám phá 278 vụ (đạt 53,86%), bắt 356 đối tượng. Số vụ có xu hướng gia tăng liên tục từ 67 vụ (năm 2011) lên đỉnh điểm 141 vụ (năm 2014) và 121 vụ (năm 2015).

3. Phương thức sử dụng phương tiện trong tội cướp giật tài sản chiếm tỷ lệ bao nhiêu?
Có tới 5.129 vụ cướp giật tài sản có sử dụng phương tiện (chủ yếu là xe mô tô, xe gắn máy) trên tổng số 5.609 vụ, chiếm tỷ lệ 91,44%.

4. Địa bàn quận nào xảy ra nhiều vụ cướp giật tài sản nhất tại TP.HCM giai đoạn này?
Quận 1 có số vụ cướp giật tài sản cao nhất với 569 vụ (chiếm 10,14%), tiếp theo là quận Tân Bình với 552 vụ (chiếm 9,84%), Quận 10 với 305 vụ (chiếm 5,44%) và Quận 3 với 301 vụ (chiếm 5,37%).

5. Bất cập trong quy định của Điều 136 BLHS năm 1999 (sửa đổi 2009) được tác giả chỉ ra là gì?
Tác giả chỉ ra sự giao thoa, trùng lặp khung hình phạt giữa khoản 1 (từ 1 năm đến 5 năm tù) và khoản 2 (từ 3 năm đến 10 năm tù) ở khoảng mức án từ 3 năm đến 5 năm tù, gây khó khăn cho sự thống nhất trong định khung và lượng hình khi xét xử.


Kết luận

Khóa luận cử nhân luật của tác giả Trương Thị Hương Huệ đã hệ thống hóa và phân tích chi tiết tình hình tội phạm cướp giật tài sản trên địa bàn TP.HCM giai đoạn 2011 – 2015 thông qua nguồn dữ liệu thực chứng từ Công an, Viện kiểm sát và Tòa án. Công trình làm rõ các nhóm nguyên nhân từ nhân thân, hoàn cảnh gia đình, tình huống khách quan, khía cạnh nạn nhân cho đến bất cập lập pháp tại Điều 136 BLHS 1999. Trên cơ sở đó, đề tài xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ kết hợp giữa phòng ngừa xã hội, cưỡng chế tư pháp và biện pháp nghiệp vụ chuyên ngành nhằm kiềm chế, đẩy lùi tội phạm cướp giật tài sản tại thành phố.