Chương 1: Nhận thức chung về tội phạm trộm cắp tài sản và phòng ngừa tội phạm trộm cắp tài sản. Chương 2: Nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội phạm trộm cắp tài sản trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh và thực trạng của hoạt động phòng ngừa. Chương 3: Dự báo và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động phòng ngừa tội phạm trộm cắp tài sản trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. NHẬN THỨC CHUNG VỀ TỘI PHẠM TRỘM CẮP TÀI SẢN VÀ PHÒNG NGỪA TỘI PHẠM TRỘM CẮP TÀI SẢN 1.
Khái niệm về trộm cắp tài sản Theo Từ điển Tiếng Việt, “trộm cắp” là từ ghép được tạo bởi hai từ: (i) “Trộm” là lấy của người khác một cách lén lút, nhân lúc không ai để ý; Làm việc gì lén lút, thầm vụng; (ii) “Cắp” là lợi dụng sơ hở, lấy của người khác một cách lén lút, vụng trộm. Vì vậy, “Trộm” và “Cắp” đều chỉ hành vi lén lút, thầm vụng hoặc nhằm lúc sở hở để chiếm đoạt tài sản của người khác3. Thông thường khái niệm trộm cắp dùng để chỉ những hành vi xấu, dư luận xã hội không chấp nhận cần phải lên án, vì nó không chỉ ảnh hưởng đến an ninh trật tự, đời sống vật chất của các cơ quan Nhà nước, tập thể và công dân mà còn cản trở sự phát triển và tiến bộ xã hội. Trong cuốn Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự của tác giả Đinh Văn Quế, trộm cắp tài sản được hiểu là “hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác”4.
Căn cứ vào lý luận và thực tiễn xét xử thì trộm cắp tài sản là hành vi lén lút lấy tài sản của chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm quản lý tài sản mà không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực hoặc bất cứ một thủ đoạn nào nhằm uy hiếp tinh thần của người quản lý tài sản. Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam, phần các tội phạm của Học viện Cảnh sát nhân dân lại cho rằng: “Trộm cắp là hành vi chiếm đoạt tài sản của chủ sở hữu tài sản hoặc người được giao trực tiếp quản lý tài sản, có thể bằng thủ đoạn lén lút”5. Tuy nhiên, việc đưa ra khái niệm trộm cắp tài sản của tác giả Đinh Văn Quế sẽ phù hợp hơn so với khái niệm được đưa ra bởi Học viện Cảnh sát nhân dân vì việc xác định “có thể bằng thủ đoạn lén lút” như trên sẽ dẫn đến có thể hiểu “lén lút” chỉ là một trong các thủ đoạn thực hiện. Bởi vì đặc trưng của hành vi chiếm đoạt trong tội phạm trộm cắp tài sản là hành vi được thực hiện (hành động) một cách lén lút, bí mật.
Việc lén lút là nhằm để che giấu hành vi phạm tội để 3 Đỗ Lường Thiện (2017), “Hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về tội trộm cắp tài sản”, Tạp chí Nghề luật, số 04, tr. 4 Đinh Văn Quế (2021), Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự, Nxb. Thông tin và Truyền thông, tr. 5 Đỗ Lường Thiện (2017), “Hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về tội trộm cắp tài sản”, Tạp chí Nghề luật, số 04, tr.
2 chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản không biết việc chiếm đoạt đó. Đây là dấu hiệu để phân biệt giữa tội phạm trộm cắp tài sản với các tội phạm mang tính chiếm đoạt khác như tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, tội cướp tài sản…. Vì vậy, dấu hiệu “lén lút” là dấu hiệu đặc trưng và mang tính bắt buộc của tội trộm cắp tài sản nên khái niệm “trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác” chính xác hơn so với khái niệm “Trộm cắp là hành vi chiếm đoạt tài sản của chủ sở hữu tài sản hoặc người được giao trực tiếp quản lý tài sản, có thể bằng thủ đoạn lén lút”. Định nghĩa nội dung về tội phạm, “tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt”6.
Giáo trình Luật Hình sự Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh cũng có định nghĩa “trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang trong sự quản lý của người khác…”. Trên các cơ sở đó, có thể rút ra được định nghĩa về trộm cắp tài sản như sau: “trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu tài sản của người khác, do người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý”. Tội trộm cắp tài sản có các dấu hiệu sau: Thứ nhất, tội trộm cắp tài sản là hành vi có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội Hành vi nguy hiểm cho xã hội của tội phạm trộm cắp tài sản là hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại về quyền sở hữu của người khác. Tính nguy hiểm cho xã hội được xác định thông qua các tình tiết như: thiệt hại về tài sản mà tội phạm đã gây ra, thủ đoạn phạm tội, mức độ lỗi cố ý, mục đích của tội phạm… Tội trộm cắp tài sản phải có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội vì những hành vi trộm cắp tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng không đáng kể thì cũng không được xem là tội phạm theo quy định tại khoản 4 Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) (“Bộ luật Hình sự”).
Như vậy, tính nguy hiểm đáng kể là dấu hiệu cơ bản, quan trọng nhất quyết định các dấu hiệu khác của tội phạm trộm cắp tài sản, là tiêu chí để phân biệt với các vi phạm pháp luật khác. 6 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (phần chung), Nxb. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr. 3 Thứ hai, tội trộm cắp tài sản phải có lỗi Lỗi là thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi của mình và hậu quả mà hành vi đó gây ra, biểu hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý, thể hiện sự phủ định các yêu cầu của xã hội.
Người bị coi là có lỗi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nếu hành vi ấy là kết quả của việc lựa chọn và quyết định của chủ thể trong khi có đủ điều kiện quyết định thực hiện xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội7. Lỗi của tội trộm cắp tài sản là lỗi cố ý trực tiếp, là thái độ tâm lý của người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản đối với hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác và hậu quả của hành vi đó gây ra. Thứ ba, tội trộm cắp tài sản có tính trái pháp luật Theo quy định tại Điều 2 Bộ luật Hình sự, chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm thì mới phải chịu hình phạt. Do đó, tính trái pháp luật của tội trộm cắp tài sản được thể hiện ở việc tội phạm trộm cắp tài sản được quy định trong Bộ luật Hình sự cụ thể tại Điều 173.
Đây là yêu cầu của nguyên tắc pháp chế và là sự cụ thể hóa về trách nhiệm hình sự của tội trộm cắp tài sản. Vì vậy, khi một người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản gây nguy hiểm đáng kể cho xã hội thì hành vi đó là trái pháp luật hình sự và người thực hiện hành vi phải chịu trách nhiệm hình sự. Thứ tư, tội trộm cắp tài sản phải chịu hình phạt Hình phạt là biện pháp nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật Hình sự, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó8. Tội trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự nên người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản thỏa mãn dấu hiệu quy định thì phải chịu mức hình phạt quy định trong Bộ luật Hình sự.
Hình phạt đối với hành vi trộm cắp tài sản thể hiện bản chất nguy hiểm của hành vi, đồng thời còn thể hiện tính cưỡng chế Nhà nước nghiêm khắc nhất đối với hành vi trộm cắp tài sản nhằm răn đe và phòng ngừa đối với hành vi nguy hiểm này9. 7 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (phần chung), Nxb. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr. 8 Điều 30 Bộ luật Hình sự.
9 Nguyễn Ngọc Ảnh (2017), Tội trộm cắp tài sản trong Luật Hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh. Dấu hiệu pháp lý về tội trộm cắp tài sản 1. Mặt khách quan của tội phạm Hành vi khách quan của tội trộm cắp tài sản là hành vi chiếm hữu trái phép tài sản của người khác để tạo cho mình khả năng định đoạt tài sản đó một cách lén lút, nhằm không cho chủ quản lý tài sản biết có việc chiếm đoạt xảy ra. Người thực hiện hành vi phạm tội cũng mong muốn che giấu hành vi chiếm đoạt.
Hành vi trộm cắp tài sản phải tác động đến tài sản đang có người khác quản lý. Những tài sản đã thoát ly khỏi sự quản lý của chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý hợp pháp thì không được coi là đối tượng chiếm đoạt của hành vi trộm cắp. Tội trộm cắp tài sản hoàn thành khi người phạm tội chiếm đoạt được tài sản. Trong từng trường hợp cụ thể có sự khác nhau về vị trí để tài sản và loại tài sản nên việc xác định thời điểm chiếm đoạt được tài sản có sự khác nhau.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, thì hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác chỉ cấu thành Tội trộm cắp tài sản khi tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ 2.000 đồng trở lên. Trường hợp tài sản bị chiếm đoạt có giá trị dưới 2.000 đồng thì phải kèm theo một trong những điều kiện sau: (1) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; (2) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các Điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật Hình sự, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; (3) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; (4) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; (5) Tài sản là di vật, cổ vật.