Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị đặc biệt, giữ vai trò trung tâm kinh tế, văn hóa và giáo dục lớn nhất của cả nước với mật độ dân số và tốc độ đô thị hóa cao. Sự phát triển mạnh mẽ về thương mại, công nghiệp và dịch vụ bên cạnh mặt tích cực cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp về trật tự an toàn xã hội. Giai đoạn 2020 - 2021, thành phố gánh chịu thiệt hại nặng nề do đại dịch Covid-19, dẫn đến các hệ lụy xã hội nghiêm trọng như tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, thu nhập người lao động giảm sút, đời sống kinh tế gặp nhiều khó khăn. Ngay sau khi thành phố chuyển sang giai đoạn thích ứng an toàn theo Nghị quyết số 128/NQ-CP ngày 11/10/2021 của Chính phủ, tình hình tội phạm hình sự ghi nhận diễn biến phức tạp; đơn cử chỉ trong 10 ngày đầu "bình thường mới", toàn địa bàn đã xảy ra 70 vụ phạm pháp hình sự (lực lượng chức năng khám phá 48 vụ, bắt giữ 54 đối tượng), trong đó chiếm đa số là các vụ trộm cắp và cướp giật tài sản. Bên cạnh đó, bối cảnh kinh tế khó khăn kéo dài cùng tác động gián tiếp từ sự biến động giá nguyên liệu thế giới làm thay đổi động cơ và phương thức phạm tội. Nhận thức được yêu cầu cấp thiết của việc kiểm soát trật tự an toàn xã hội trong giai đoạn phục hồi kinh tế, tác giả Đoàn Thị Yến Nhi đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật với đề tài "Phòng ngừa tội phạm trộm cắp tài sản trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh".

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận là làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn của hoạt động phòng ngừa tội phạm trộm cắp tài sản trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh; từ đó rút ra các luận cứ khoa học nhằm đề xuất các biện pháp góp phần hạn chế và đẩy lùi loại tội phạm này trong giai đoạn tiếp theo. Để đạt được mục tiêu trên, tác giả xác định năm nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Phân tích lý luận về phòng ngừa tội phạm trộm cắp tài sản;
  2. Đánh giá tình hình tội phạm trộm cắp tài sản trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh;
  3. Phân tích nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm trộm cắp tài sản trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh;
  4. Phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài sản và một số vấn đề về hoạt động phòng ngừa tội phạm;
  5. Đưa ra các dự báo và biện pháp phòng ngừa tội phạm trộm cắp tài sản trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn sắp tới.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận bao gồm: các vấn đề lý luận về phòng ngừa tội phạm trộm cắp tài sản; thực trạng tình hình, nguyên nhân, điều kiện của tội phạm trộm cắp tài sản; và các giải pháp phòng ngừa trên địa bàn. Đối tượng khảo sát thực tế là người dân sinh sống trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Về phạm vi nghiên cứu, không gian giới hạn tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh; thời gian khảo sát và thu thập dữ liệu tập trung trong hai năm 2020 và 2021.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử mác-xít. Về mặt lý luận pháp lý và tội phạm học, tác giả kế thừa và vận dụng hệ thống các khái niệm, quy định pháp luật sau:

  • Khung pháp lý hình sự: Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), trọng tâm là Điều 173 quy định tội trộm cắp tài sản, cùng các điều khoản liên quan gồm Điều 2 (nguyên tắc pháp chế), Điều 4 (trách nhiệm đấu tranh phòng ngừa tội phạm), Điều 8 (khái niệm tội phạm), Điều 12 (tuổi chịu trách nhiệm hình sự), Điều 17 (giai đoạn chuẩn bị phạm tội), Điều 30 (khái niệm hình phạt).
  • Khung lý luận tội phạm học: Các giáo trình và công trình nghiên cứu chuyên khảo của Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, Trường Đại học Luật Hà Nội, Học viện Cảnh sát nhân dân, tác giả Đinh Văn Quế, PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa, GS.TS. Nguyễn Xuân Yêm. Tác giả tiếp cận khái niệm tội phạm học về tình hình tội phạm (phần hiện, phần ẩn, cơ cấu, động thái, thiệt hại) và mô hình cơ chế tâm lý xã hội của hành vi phạm tội gồm ba khâu kế tiếp nhau: hình thành động cơ phạm tội, kế hoạch hóa việc thực hiện tội phạm, và trực tiếp thực hiện hành vi.

Tác giả phối hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp thống kê: Xử lý các chuỗi số liệu xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong 2 năm 2020 - 2021 để mô tả quy mô, cơ cấu hình phạt và đặc điểm nhân thân người phạm tội.
  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (phiếu khảo sát): Tiến hành khảo sát thực tế đối với 200 người dân sinh sống trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh nhằm đo lường mức độ trình báo, tố giác tội phạm và nhận diện các yếu tố tạo nên vùng ẩn của tội trộm cắp tài sản.
  • Phương pháp nghiên cứu điển hình: Phân tích các vụ án cụ thể đã được xét xử thông qua các bản án công khai trên cổng thông tin điện tử của Tòa án (Bản án số 370/2021/HS-ST và Bản án số 505/2021/HS-ST của TAND TP. Thủ Đức; Bản án số 101/2021/HS-ST của TAND Quận 12) cùng các vụ án trộm cắp điển hình ghi nhận trên địa bàn Quận Gò Vấp để nhận diện phương thức, thủ đoạn phạm tội.
  • Phương pháp so sánh, phân tích - tổng hợp: Đối chiếu các nhóm số liệu giữa năm 2020 và 2021, so sánh tương quan nhân thân để làm rõ nguyên nhân, điều kiện phạm tội.

Nguồn dữ liệu của đề tài gồm số liệu thống kê xét xử của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, báo cáo từ các cơ quan bảo vệ pháp luật, kết quả điều tra xã hội học 200 phiếu khảo sát người dân thành phố, hệ thống bản án hình sự sơ thẩm công bố chính thức và các tài liệu khoa học chuyên ngành.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Nhận thức chung về tội phạm trộm cắp tài sản và phòng ngừa tội phạm trộm cắp tài sản

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về tội trộm cắp tài sản và hoạt động phòng ngừa dưới góc độ luật hình sự và tội phạm học. Tác giả phân tích khái niệm "trộm cắp tài sản", đối chiếu định nghĩa giữa Từ điển Tiếng Việt, Giáo trình của Học viện Cảnh sát nhân dân và bình luận khoa học của Đinh Văn Quế. Tác giả khẳng định dấu hiệu "lén lút" là đặc trưng mang tính bắt buộc để phân biệt trộm cắp với cướp tài sản hay công nhiên chiếm đoạt tài sản. Bốn dấu hiệu pháp lý cấu thành tội trộm cắp tài sản theo Điều 173 Bộ luật Hình sự được phân tích cụ thể:

  • Khách thể: Quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, tổ chức, cá nhân; đối tượng tác động là vật, tiền, giấy tờ có giá.
  • Mặt khách quan: Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang có người quản lý, tài sản có giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng kèm theo các điều kiện luật định (đã bị xử phạt hành chính, đã có án tích chưa xóa, ảnh hưởng an ninh trật tự, là phương tiện kiếm sống chính, di vật, cổ vật).
  • Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp với mục đích vụ lợi cá nhân.
  • Chủ thể: Người có năng lực trách nhiệm hình sự, từ đủ 16 tuổi trở lên (đối với mọi khoản của Điều 173) hoặc từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi (đối với tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng quy định tại khoản 3, khoản 4). Khung hình phạt gồm 4 khung chính (cao nhất đến 20 năm tù) và hình phạt bổ sung phạt tiền.

Về phòng ngừa tội phạm, chương này làm rõ khái niệm phòng ngừa là hệ thống các biện pháp mang tính nhà nước và xã hội nhằm loại trừ nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm. Tác giả chỉ ra 4 đặc điểm cốt lõi của hoạt động phòng ngừa: chủ thể tham gia toàn diện; đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ; mang tính nhân đạo, khoan hồng, hạn chế cưỡng chế; phạm vi tác động rộng và linh hoạt theo từng địa phương. Hoạt động phòng ngừa bao gồm hai nội dung chính: phòng ngừa xã hội (khắc phục nguyên nhân gốc rễ, hỗ trợ kinh tế, quản lý lao động) và phòng ngừa bằng cưỡng chế (điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án).

Chương 2: Nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội phạm trộm cắp tài sản trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh và thực trạng của hoạt động phòng ngừa

Chương 2 tập trung phân tích thực trạng tình hình tội phạm trộm cắp tài sản tại TP. Hồ Chí Minh trong hai năm 2020 và 2021 dựa trên các số liệu thực chứng từ cơ quan xét xử và khảo sát xã hội học.

Chỉ số thống kê xét xử Năm 2020 Năm 2021 Tổng cộng (2020 - 2021)
Số vụ xét xử 1.032 vụ 742 vụ 1.774 vụ
Số người phạm tội (bị cáo) 1.361 người 915 người 2.276 người
Tỷ lệ bị cáo / vụ 1,32 1,23 1,28
Số vụ xảy ra thực tế ghi nhận 1.250 vụ 1.044 vụ 2.294 vụ
Hệ số tình hình tội phạm (trên 100.000 dân) 13,54 11,09 -

Tác giả đặc biệt nhấn mạnh "phần ẩn" của tội phạm trộm cắp tài sản. Kết quả khảo sát 200 người dân thành phố cho thấy tỷ lệ tội phạm ẩn rất cao: có tới 114/200 người (chiếm tỷ trọng áp đảo) không trình báo hoặc không tố giác khi bị mất trộm tài sản; chỉ có 91 người từng thực hiện trình báo cơ quan công an. Nguyên nhân khiến nạn nhân không tố giác được chỉ rõ: 37,5% có tâm lý "của đi thay người"; 31% do tài sản thiệt hại không đáng kể; 24% không tin tưởng vào khả năng điều tra, phá án của cơ quan chức năng; và 6% lo sợ bị đối tượng trả thù. Bên cạnh đó, tội phạm ẩn còn xuất phát từ sự thiếu trách nhiệm của cán bộ cơ sở đối với các vụ việc nhỏ và khuyết tật trong công tác thống kê hình sự (chạy theo thành tích, sai sót nhập liệu).

Về cơ cấu hình phạt áp dụng đối với 2.276 bị cáo trong hai năm:

  • Phạt tù từ 3 năm trở xuống: 1.752 bị cáo (chiếm 76,98%);
  • Phạt tù từ trên 3 năm đến 7 năm: 375 bị cáo (chiếm 16,48%);
  • Cho hưởng án treo: 109 bị cáo (chiếm 4,79%);
  • Phạt tù từ trên 7 năm đến 15 năm: 25 bị cáo (chiếm 1,10%);
  • Cải tạo không giam giữ: 10 bị cáo (chiếm 0,44%);
  • Cảnh cáo: 3 bị cáo (chiếm 0,13%);
  • Phạt tù từ trên 15 năm đến 20 năm: 2 bị cáo (chiếm 0,08%);
  • Hình phạt tiền: 0 bị cáo.

Về cơ cấu nhân thân người phạm tội:

  • Giới tính: Nam giới chiếm ưu thế tuyệt đối với 2.234 bị cáo (98,15%), nữ giới chỉ có 42 bị cáo (1,85%).
  • Độ tuổi: Tập trung đông nhất ở nhóm thanh niên từ đủ 18 tuổi đến dưới 30 tuổi với 2.071 bị cáo (90,99%); nhóm từ 30 đến dưới 45 tuổi có 186 bị cáo (8,17%); nhóm từ 16 đến dưới 18 tuổi có 10 bị cáo (0,44%); nhóm trên 45 tuổi có 9 bị cáo (0,40%); nhóm từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi không ghi nhận trường hợp nào.
  • Nghề nghiệp: Có 2.235 bị cáo có nghề nghiệp (chiếm 98,2%), người không nghề nghiệp chỉ có 41 bị cáo (1,8%). Tuy nhiên, đa số người phạm tội làm các công việc lao động phổ thông, thu nhập bấp bênh, chịu ảnh hưởng kinh tế nặng nề từ dịch bệnh Covid-19.
  • Tái phạm: Người phạm tội lần đầu là 2.257 bị cáo (99,17%), tái phạm chiếm 19 bị cáo (0,83%).
  • Nghiện ma túy: Không nghiện có 2.268 bị cáo (99,52%), nghiện ma túy có 11 bị cáo (chiếm 0,48%).
  • Môi trường gia đình: Có tới 1.527 bị cáo (chiếm 67,1%) xuất thân từ các gia đình không hoàn thiện, khiếm khuyết trong nuôi dưỡng, giáo dục hoặc có người thân vi phạm pháp luật.

Về nguyên nhân và điều kiện phạm tội, tác giả phân tích dựa trên cơ chế tâm lý xã hội gồm ba khâu (hình thành động cơ, kế hoạch hóa, thực hiện hành vi). Nguyên nhân từ phía người phạm tội là sự lệch lạc trong nhận thức giá trị, tôn sùng vật chất, lười lao động, ý thức chấp hành pháp luật kém do trình độ văn hóa thấp. Nguyên nhân từ hoàn cảnh khách quan gồm: áp lực việc làm, chi phí nhà trọ của người lao động nhập cư; sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu tài sản; đặc thù người phạm tội thường di chuyển sang địa bàn quận khác để gây án nhằm tránh nhận diện (minh chứng qua các bản án tại TP. Thủ Đức và Quận 12). Hoạt động phòng ngừa còn bộc lộ nhiều yếu kém: lực lượng trinh sát và điều tra viên công an mỏng so với dân số; năng lực cán bộ cơ sở hạn chế; tình trạng chậm xử lý tin báo tố giác; Viện kiểm sát tham gia kiểm sát hiện trường còn mang tính hình thức, xuôi chiều theo cơ quan điều tra, tranh tụng tại tòa chưa sắc bén.

Chương 3: Dự báo và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong hoạt động phòng ngừa tội phạm trộm cắp tài sản trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Tác giả đưa ra dự báo trong giai đoạn phục hồi kinh tế hậu đại dịch, dưới tác động của suy thoái kinh tế và giá cả nguyên liệu gia tăng, tình hình tội phạm trộm cắp tài sản tại TP. Hồ Chí Minh vẫn diễn biến phức tạp cả về quy mô, phương thức và tính chất đồng phạm có tổ chức. Từ đó, tác giả đề xuất 5 nhóm giải pháp đồng bộ:

  1. Giải pháp kinh tế - xã hội: Khôi phục sản xuất, tạo việc làm, hỗ trợ các gói an sinh xã hội cho người lao động thu nhập thấp, chăm lo các gia đình khó khăn sau dịch bệnh để triệt tiêu động cơ phạm tội xuất phát từ áp lực mưu sinh.
  2. Giải pháp về quản lý: Siết chặt quản lý cư trú, tăng cường kiểm tra tạm trú, tạm vắng đối với lao động nhập cư; liên kết các trung tâm dịch vụ việc làm để hỗ trợ người chấp hành xong án phạt tù tái hòa nhập cộng đồng; quản lý chặt chẽ các đối tượng nghi vấn và các điểm kinh doanh cầm đồ, tiêu thụ tài sản cũ.
  3. Giải pháp về pháp luật: Hoàn thiện quy định pháp luật về công tác thống kê hình sự định kỳ theo quý nhằm hạn chế tội phạm ẩn; chuẩn hóa quy trình tiếp nhận, xử lý tin báo tố giác tội phạm tại cấp cơ sở.
  4. Giải pháp về phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật: Đổi mới hình thức tuyên truyền đến từng khu phố, tổ dân phố; vận động quần chúng nhân dân nâng cao tinh thần tự quản lý, bảo vệ tài sản; xóa bỏ tâm lý "của đi thay người" để khuyến khích tố giác tội phạm.
  5. Giải pháp nâng cao hiệu quả của các cơ quan bảo vệ pháp luật: Tăng cường biên chế và tập huấn nâng cao trình độ nghiệp vụ cho cán bộ điều tra Công an; Viện kiểm sát nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố, tăng cường giám sát khám nghiệm hiện trường, nâng cao chất lượng tranh tụng; khắc phục triệt để bệnh thành tích trong thống kê xử lý tội phạm.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và phân tích hệ thống dữ liệu thực tế về tội trộm cắp tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn chịu ảnh hưởng trực tiếp của dịch bệnh Covid-19 (2020 - 2021). Các phát hiện thực chứng nổi bật gồm:

  • Tội phạm trộm cắp tài sản chiếm số lượng xét xử rất lớn với 1.774 vụ và 2.276 bị cáo trong 2 năm; tính chất đồng phạm tương đối phổ biến (trung bình 1,23 - 1,32 bị cáo/vụ).
  • Đa số các vụ án có mức độ nghiêm trọng từ ít nghiêm trọng đến nghiêm trọng, thể hiện qua việc 76,98% người phạm tội bị áp dụng hình phạt tù từ 3 năm trở xuống và 16,48% bị phạt tù từ trên 3 năm đến 7 năm.
  • Nhân thân người phạm tội trộm cắp mang những đặc thù rất rõ nét: 98,15% là nam giới; 90,99% thuộc lứa tuổi 18 đến dưới 30 tuổi; 98,2% có việc làm nhưng chủ yếu là lao động phổ thông chịu sức ép kinh tế; 67,1% có môi trường gia đình khiếm khuyết; trong khi tỷ lệ tái phạm (0,83%) và nghiện ma túy (0,48%) trong hồ sơ xét xử chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ.
  • Đo lường được bức tranh về phần ẩn của tội phạm: chỉ ra 57% nạn nhân được hỏi không đến cơ quan chức năng tố giác khi bị trộm cắp tài sản, phản ánh tâm lý e ngại thủ tục, buông xuôi và thiếu tin tưởng vào khả năng điều tra thu hồi tài sản.

Đóng góp khoa học của đề tài thể hiện ở việc tác giả đã kết hợp phân tích lý luận tội phạm học với điều tra xã hội học thực nghiệm ngay tại địa bàn đô thị đặc biệt TP. Hồ Chí Minh trong giai đoạn biến động đặc thù (2020 - 2021). Công trình đã chỉ rõ mối liên hệ giữa các khâu trong cơ chế tâm lý xã hội với đặc điểm xã hội hóa của người phạm tội, đồng thời đưa ra hệ thống kiến nghị sát với thực trạng vận hành của các cơ quan Công an, Viện kiểm sát và Tòa án trên địa bàn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số giới hạn xuất phát từ phạm vi nghiên cứu và điều kiện tiếp cận tư liệu thực tế:

  • Về phạm vi thời gian: Đề tài tập trung dữ liệu trong hai năm 2020 và 2021. Đây là giai đoạn Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng các biện pháp giãn cách xã hội kéo dài để phòng chống dịch Covid-19, do đó một số chỉ số về động thái tội phạm mang tính đặc thù của bối cảnh dịch bệnh, chưa bao quát trọn vẹn chu kỳ biến động thông thường của tội phạm học trong điều kiện kinh tế ổn định.
  • Về dung lượng mẫu khảo sát: Hoạt động điều tra xã hội học được thực hiện trên cỡ mẫu 200 người dân. Dù phản ánh được xu hướng tâm lý nạn nhân và mức độ tội phạm ẩn, quy mô mẫu này còn tương đối khiêm tốn so với quy mô dân số hơn 9 triệu người của một đô thị đặc biệt.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng phạm vi thời gian nghiên cứu sang các năm phục hồi kinh tế toàn diện hậu đại dịch; nâng cao quy mô mẫu khảo sát tại nhiều địa bàn quận, huyện vùng ven; đồng thời đi sâu nghiên cứu các phương thức trộm cắp tài sản ứng dụng công nghệ cao hoặc có thủ đoạn phi truyền thống mới phát sinh trên địa bàn thành phố.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Hình sự và Tội phạm học tại các cơ sở đào tạo luật: có thể tham khảo phương pháp kết hợp số liệu thống kê tư pháp với phiếu điều tra xã hội học về tội phạm ẩn, cũng như cách thức phân tích nhân thân người phạm tội.
  • Cán bộ thực tiễn thuộc lực lượng Công an nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân cấp quận, huyện tại TP. Hồ Chí Minh: có thể tham khảo bức tranh tổng thể về cơ cấu độ tuổi, nghề nghiệp, nơi cư trú của tội phạm trộm cắp và các nguyên nhân khiến người dân không tố giác tội phạm để cải tiến công tác tiếp nhận tin báo, quản lý địa bàn.
  • Những người nghiên cứu chính sách an sinh và phòng chống tội phạm đô thị: tham khảo các số liệu thực tế về tác động của tình trạng thiếu hụt an sinh và môi trường gia đình đối với hành vi phạm tội của thanh thiếu niên.

Câu hỏi thường gặp

1. Trong hai năm 2020 và 2021, Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh đã xét xử bao nhiêu vụ án trộm cắp tài sản và hình phạt nào được áp dụng nhiều nhất? Theo số liệu thống kê trong khóa luận, trong hai năm 2020 và 2021, Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh đã đưa ra xét xử 1.774 vụ trộm cắp tài sản với 2.276 bị cáo (năm 2020 có 1.032 vụ/1.361 bị cáo; năm 2021 có 742 vụ/915 bị cáo). Hình phạt được áp dụng phổ biến nhất là phạt tù từ 3 năm trở xuống, áp dụng cho 1.752 bị cáo, chiếm tỷ lệ 76,98% tổng số người bị kết án.

2. Độ tuổi và nghề nghiệp của người phạm tội trộm cắp tài sản tại TP. Hồ Chí Minh có đặc điểm gì nổi bật? Độ tuổi người phạm tội tập trung chủ yếu ở nhóm từ đủ 18 tuổi đến dưới 30 tuổi với 2.071 người (chiếm tỷ lệ 90,99%). Về nghề nghiệp, có đến 98,2% người phạm tội có việc làm (2.235 bị cáo), nhưng hầu hết là lao động phổ thông với mức thu nhập bấp bênh, chịu tác động tiêu cực về đời sống trong bối cảnh đại dịch Covid-19.

3. Khảo sát 200 người dân thành phố cho thấy tỷ lệ người không tố giác tội phạm trộm cắp là bao nhiêu và lý do chính là gì? Trong 200 người dân tham gia khảo sát, có 114 người (chiếm tỷ lệ 57%) trả lời không đến cơ quan công an trình báo hoặc tố giác khi bị trộm cắp tài sản. Lý do chính được người dân đưa ra gồm: quan niệm "của đi thay người" (chiếm 37,5%); giá trị tài sản thiệt hại không đáng kể (chiếm 31%); không tin tưởng vào khả năng điều tra, thu hồi tài sản của cơ quan chức năng (chiếm 24%); và lo sợ bị trả thù (chiếm 6%).

4. Khóa luận phân chia cơ chế tâm lý xã hội của hành vi phạm tội trộm cắp tài sản thành những khâu nào? Cơ chế tâm lý xã hội của hành vi trộm cắp tài sản được tác giả phân tích gồm 3 khâu diễn ra chặt chẽ theo trình tự: (1) Khâu hình thành động cơ phạm tội; (2) Khâu kế hoạch hóa việc thực hiện tội phạm (xác định mục tiêu, công cụ, thời gian, địa điểm gây án); và (3) Khâu trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội bộc lộ ra thế giới khách quan.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Đoàn Thị Yến Nhi đã hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận về tội trộm cắp tài sản và các nguyên tắc phòng ngừa tội phạm trong khoa học luật hình sự và tội phạm học. Thông qua nguồn số liệu thực chứng của Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh và kết quả điều tra xã hội học giai đoạn 2020 - 2021, công trình đã phác họa rõ nét thực trạng, cơ cấu nhân thân người phạm tội, cùng các nguyên nhân cốt lõi tạo nên vùng ẩn của loại tội phạm này trong bối cảnh chịu ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19. Các giải pháp được tác giả đề xuất mang tính hệ thống từ kinh tế, xã hội, quản lý cư trú đến nâng cao năng lực hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng nhằm kiểm soát trật tự an toàn xã hội trên địa bàn thành phố.