Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG GIỮA CÁC CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT 1. Khái niệm, đặc điểm pháp lý các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt 1. Khái niệm Các tội XPSH là những hành vi có lỗi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu và sự gây thiệt hại này thể hiện được đầy đủ nhất bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi [36, tr. Các tội này được quy định tại Chương XIV Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 gồm 13 tội được quy định rất cụ thể từ Điều 133 đến Điều 145.
Đó là các tội: tội cướp tài sản được quy định tại Điều 133; tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 134; tội cưỡng đoạt tài sản được quy định tại Điều 135; tội cướp giật tài sản được quy định tại Điều 136; tội công nhiên chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 137; tội trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 138; tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 139; tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 140; tội chiếm giữ trái phép tài sản được quy định tại Điều 141; tội sử dụng trái phép tài sản được quy định tại Điều 142; tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản được quy định tại Điều 143; tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước được quy định tại Điều 144; tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản được quy định tại Điều 145. Nay các tội này được quy định tại Chương XVI BLHS năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), cũng gồm 13 tội từ điều 168 đến điều 180. Vậy BLHS năm 2015 về tên gọi (các tội xâm phạm sở hữu) và số lượng điều luật (13 điều) không thay đối so với BLHS năm 1999. Sự không thay đổi này phản ánh sự ổn định của nhóm tội phạm có tính chất truyền thống từ trước đến nay qua các lần thay đổi của 7 BLHS.
Về tê tội danh thì BLHS năm 2015 ( Sửa đổi, bổ sung năm 2017) có sửa tên tội danh của Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của nhà nước (Điều 144 BLHS năm 1999) thành tội thiếu trách nhiệm gây thiết hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp (Điều 179 BLHS) [8, tr. Căn cứ vào tính chất mục đích phạm tội khoa học luật hình sự chia các tội XPSH thành hai nhóm tội. Nhóm 1: là nhóm các tội phạm có mục đích tư lợi bao gồm 10 tội được quy định từ Điều 133 đến Điều 142 BLHS. Và nhóm 2: là nhóm tội phạm không có mục đích tư lợi được quy định từ Điều 143 đến Điều 145 BLHS.
Đối với nhóm các tội có mục đích tư lợi, dựa vào đặc điểm chung của hành vi phạm tội có thể chia thành nhóm có tính chất chiếm đoạt (bao gồm 8 tội từ Điều 133 đến Điều 140 và nhóm không có tính chất chiếm đoạt (gồm các Điều 141, 142). Vậy tính chất chiếm đoạt ở đây được hiểu như thế nào? Trong khi đó, theo Từ điển tiếng Việt, chiếm đoạt là “Chiếm của người làm của mình, bằng cách dựa vào vũ lực, quyền thế”[36, tr. Như vậy, khái niệm chiếm đoạt cần phải bao quát cả ở khía cạnh hành vi phạm tội và mục đích phạm tội. Từ đó, chúng tôi cho rằng khái niệm chiếm đoạt trong dấu hiệu chiếm đoạt cần được hiểu như sau: “Chiếm đoạt là việc cố ý chuyển dịch trái pháp luật tài sản đang thuộc sự quản lí của chủ sở hữu thành tài sản của mình.
Chúng được biểu hiện dưới dạng hành vi hoặc mục đích phạm tội”. Trên cơ sở khái niệm các tội XPSH và khái niệm chiếm đoạt ở trên, có thể đưa ra khái niệm về các tội XPSH có tính chiếm đoạt như sau: Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là những hành vi cố ý chiếm lấy, đoạt lấy tài sản đang do người khác sở hữu hợp pháp làm tài sản của mình vì mục đích vụ lợi. Dấu hiệu pháp lý đặc trưng Dấu hiệu pháp lý đặc trưng của các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt (dựa vào bốn yếu tố cấu thành tội phạm và khái niệm các tội XPSH có tính chất chiếm 8 đoạt) cụ thể như sau: Thứ nhất, khách thể của tội phạm Theo khoa học luật hình sự, khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại [35, tr. Theo quy định của BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung 2009 thì các tội được quy định cụ thể từ Điều 133 đến Điều 140; thực tiễn áp dụng như sau: các tội có khách thể không chỉ là quan hệ sở hữu mà còn là quyền nhân thân đó là các tội được quy định từ Điều 133 đến Điều 136 BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung 2009.
Còn đối với các tội có khách thể chỉ là quan hệ sở hữu được quy định từ Điều 137 đến Điều 140 BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung 2009. Về đối tượng tác động thuộc khách thể của tội phạm, các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt có đối tượng tác động là tài sản thuộc sở hữu của người khác và chúng còn nằm trong sự chiếm hữu, quản lí của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản. Về nguyên tắc tài sản này là hợp pháp, bao gồm: vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền về tài sản (theo Điều 163 Bộ luật dân sự). Thứ hai, mặt khách quan của tội phạm.
Hành vi phạm tội được hiểu là hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội được luật hình sự quy định chịu sự kiểm soát, điều khiển bởi ý thức, ý chí của người phạm tội [35, tr. Hành vi phạm tội có hai hình thức thể hiện là hành động và không hành động. Thực tiễn áp dụng các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt có những hành vi khách quan khác nhau, theo quy định của BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung 2009. Đó có thể là hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực như tội Cướp tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, Cưỡng đoạt tài sản (nhóm 1); hành vi lợi dụng sơ hở của chủ tài sản để thực hiện tội phạm như tội Công nhiên chiếm đoạt tài sản, Trộm cắp tài sản (nhóm 2); hành vi dùng thủ đoạn gian dối như tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (nhóm 3) hay hành vi nhanh chóng chiếm đoạt tài sản một cách công khai rồi tẩu thoát như tội Cướp giật tài sản.
Đối tượng thực hiện hành vi và điều kiện khi thực hiện hành vi là khác nhau. Cụ thể, 9 trong nhóm 1, đối với tội Cướp tài sản, người phạm tội dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực “Ngay tức khắc” đối với chủ tài sản; đối với tội Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản thì hành vi đe dọa dùng vũ lực lại nhằm vào con tin từ đó khiến người thân của con tin (người có tài sản) phải lo sợ, giao nộp tài sản; hoặc cùng là đe dọa dùng vũ lực đối với chủ tài sản nhưng ở tội Cưỡng đoạt tài sản không có đặc điểm “Ngay tức khắc” như tội Cướp tài sản. Đối với nhóm 2, người phạm tội Trộm cắp tài sản có thủ đoạn lén lút khi thực hiện hành vi chiếm đoạt; còn ở tội Công nhiên chiếm đoạt tài sản thì người phạm tội lại có hành vi công khai. Ở nhóm 3,tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được phân biệt với nhau bởi thủ đoạn gian dối được thực hiện trước hay sau khi hành vi chiếm đoạt được thực hiện.
Qua những hành vi nói trên gây ra hậu quả là những thiệt hại cho quan hệ sở hữu được thể hiện dưới dạng thiệt hại vật chất cụ thể là tài sản bị mất. Đối với những tội như Cướp tài sản, Cướp giật tài sản, Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản thì thiệt hại còn bao gồm cả thiệt hại về thể chất (thương tích hoặc tổn hại về sức khỏe, tinh thần). Thứ ba, chủ thể của tội phạm Chủ thể của nhóm tội này có thể là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi nhất định: từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về những tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc những tội đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Điều 133; khoản 2,3, và 4 của các Điều 134, 135, 136; khoản 3 và 4 các Điều 137, 138, 139, 140. Ngoài ra tại các Điều 139, 140 BLHS, Thứ tư, mặt chủ quan của tội phạm: Mặt chủ quan của tội phạm các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.
Người thực hiện hành vi chiếm đoạt biết tài sản chiếm đoạt là tài sản đang có người quản lí nhưng vẫn mong muốn biến tài sản đó thành của mình. Về động cơ và mục đích phạm tội: người phạm tội mong muốn chiếm đoạt 10 được tài sản của người khác và dấu hiệu chiếm đoạt là dấu hiệu bắt buộc đối với các tội này. Không chỉ tùy thuộc vào đặc trưng của từng tội do BLHS quy định mà dấu hiệu chiếm đoạt trong các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt là khác nhau. Chúng có thể là hành vi chiếm đoạt, mục đích chiếm đoạt hoặc chiếm đoạt được.
Cụ thể: Đối với các tội từ Điều 133 đến Điều 135 BLHS, khách thể được bảo vệ bao gồm quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân. Để xâm phạm quan hệ sở hữu, người phạm tội phải có hành vi xâm hại quan hệ nhân thân. Trong đó, quan hệ nhân thân rõ ràng quan trọng hơn quan hệ sở hữu nên các tội này có cấu thành hình thức, chỉ cần người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội xem như tội phạm đã hoàn thành và dấu hiệu chiếm đoạt được thể hiện qua mục đích phạm tội. Vì vậy, mục đích chiếm đoạt là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm của các tội này.
Đây là cơ sở phân biệt các tội này với các tội khác do BLHS quy định có hành vi khách quan tương tự như hành vi phạm tội của các tội này.