Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BÀO CHỮA CHỈ ĐỊNH CHO NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI 1. Khái niệm bào chữa chỉ định cho người dưới 18 tuổi phạm tội 1. Khái niệm quyền bào chữa Mỗi quốc gia biểu hiện của xã hội văn minh là đề cao quyền con người qua các văn bản pháp lý như: Công ước quốc tế về quyền dân sự chính trị, Tuyên ngôn thế giới về quyền con người … Ở Việt Nam, thể hiện cụ thể qua các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992, 2013 đều có quy định Nhà nước có nghĩa vụ đảm bảo quyền con người, quyền công dân. Theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 thì: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”, tiếp đó khoản 1 Điều 37 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em.
Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em”. Qua đó, cho thấy quyền con người, quyền công dân được Nhà nước tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm thực hiện. Một trong các quyền của công dân được Nhà nước bảo đảm thực hiện chính là quyền được bảo vệ của người dưới 18 tuổi khi phạm tội cụ thể có quyền bào chữa chỉ định trước các cơ quan pháp luật. Quyền bào chữa của người dưới 18 tuổi bị buộc tội được ghi nhận rõ nhất trong các Bộ luật Tố tụng hình sự (sau đây gọi là BLTTHS) nhằm giúp cơ quan tiến hành tố tụng thụ lý, giải quyết một cách khách quan, tránh được việc làm oan.
Từ đó, cho ta thấy được tầm quan trọng của việc bào chữa chỉ định để bảo vệ đối tượng phạm tội là người dưới 18 tuổi đồng thời giúp Tòa án giải quyết vụ án được chính xác. Bào chữa chỉ định là một trong những chế định pháp lý rất quan trọng. Hiện nay, một trong những điều cơ bản nhất được quy định cụ thể trong Hiến pháp Việt Nam năm 2013 là công dân được có quyền tự bảo vệ mình trước bất kỳ sự xâm phạm nào nhưng công dân cũng phải tuân thủ theo quy định của Nhà nước. 7 Trong các mối quan hệ giữa công dân với cơ quan Nhà nước thì pháp luật hình sự với những chế tài nghiêm khắc, giữa một bên là người người bị buộc tội và một bên còn lại đại diện Nhà nước là các cơ quan tiến hành tố tụng, phải có nghĩa vụ chứng minh hành vi phạm tội của người bị buộc tội là có hành vi phạm tội được quy định trong pháp luật hình sự hay không.
Điều 31 Hiến pháp năm 2013 quy định “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”. Do vậy, pháp luật hình sự đã quy định người bị buộc tội có quyền tự bảo vệ mình, để chứng minh không có tội trước các cáo buộc, ý chí áp đặt là phải có tội của các cơ quan tiến hành tố tụng, đó chính là quyền bào chữa. Quyền này đã được ghi nhận chính thức trong Hiến pháp năm 2013, trong các Bộ luật Tố tụng hình sự cũng như các bản Tuyên ngôn về nhân quyền của Liên Hợp Quốc. Bên cạnh đó, việc tranh tụng trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự giữa bên đại diện cho Nhà nước là buộc tội với bên bào chữa là gỡ tội tạo ra cơ chế thuận lợi và công bằng và có hiệu quả, đã giúp Tòa án giải quyết vụ án được chính xác đúng người, đúng tội.
Quyền bào chữa là một chế định quan trọng trong BLTTHS. Tuy nhiên, hiện nay, trong quy định pháp luật hình sự vẫn chưa có một khái niệm chính xác. Do đó, đã xuất hiện nhiều quan điểm khác nhau về quyền bào chữa, như sau: - Quan điểm thứ nhất, cho rằng người bào chữa là người tham gia tố tụng với nhiệm vụ và mục đích là làm sáng tỏ những tình tiết của vụ án nhằm chứng minh cho sự vô tội hoặc làm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về mặt pháp lý để đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của họ. - Quan điểm thứ hai, cho rằng quyền bào chữa trong tố tụng hình sự là tổng hòa các hành vi tố tụng do người bị tạm giữ, bị can, bị cáo người bị kết án thực hiện trên cơ sở phù hợp với quy định của pháp luật nhằm phủ nhận một phần hay toàn bộ sự buộc tội của cơ quan tiến hành tố tụng, làm giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm của mình trong vụ án hình sự.
8 Ngoài ra, trong BLTTHS của các nước cũng có những quy định khác nhau về quyền bào chữa. Cụ thể như: Theo BLTTHS của nước Bungari quy định quyền bào chữa thuộc về bị can, bị cáo trong đó quyền bào chữa của bị can bị hạn chế, vì họ chỉ có quyền nhờ người bào chữa trong một số trường hợp cụ thể. Đó là: Bị can là người chưa thành niên; Bị can là người có nhược điểm về thể chất và tâm thần, không thể tự mình bào chữa được; khi có sự đồng ý của Viện kiểm sát, nếu sự tham gia của người bào chữa không gây khó khăn cho việc xác định chân lý khách quan về vụ án. Theo BLTTHS Liên Bang Nga quy định: “Người bào chữa được tham gia tố tụng từ khi nhận được quyết định khởi tố bị can, trong trường hợp người bị tình nghi thực hiện tội phạm bị tạm giữ hoặc áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam trước khi khởi tố bị can thì từ khi nhận được biên bản về việc bắt hoặc nhận quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam”.
Hiện nay, khái niệm về quyền bào chữa trong tố tụng hình sự thì được hiểu rất khác nhau và thực tế ở các nước cũng được quy định khác nhau. Nghiên cứu qua các quan điểm khác nhau về quyền bào chữa cũng như những quy định về quyền bào chữa của một số nước. Tuy nhiên, theo khoản 4 Điều 31 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa”. Theo Điều 16 BLTTHS năm 2015 quy định đảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội: “Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa”.
Như vậy, theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và BLTTHS năm 2015 thì người bị buộc tội là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Tùy vào từng giai đoạn tố tụng khác nhau nên người bị buộc hay phạm tội có tên gọi khác nhau nhưng đây là một chủ thể - người phạm tội. Do đó, pháp luật hình sự quy định người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam có quyền bào chữa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình là hoàn toàn hợp lý và phù hợp với Hiến pháp khi họ đang bị áp dụng biện pháp chế tài trong tố tụng hình sự. Như vậy, quyền bào chữa xuất hiện từ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người, có quyết định tạm giữ hoặc từ khi khởi 9 tố bị can.
Quyền bào chữa kết thúc khi vụ án được xét xử và bản án có hiệu lực pháp luật. Trong một số trường hợp đặc biệt, khi những căn cứ của việc buộc tội không còn, chủ thể có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ vụ án thì chức năng bào chữa sẽ kết thúc sớm hơn. Từ những phân tích và tổng hợp các quan điểm khác nhau nêu trên, có thể đưa ra khái niệm về quyền bào chữa theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam như sau: “Quyền bào chữa của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự là tổng hợp các quyền mà pháp luật quy định, cho phép người bào chữa sử dụng để bác bỏ một phần hay toàn bộ sự buộc tội của các cơ quan tiến hành tố tụng hoặc làm nhẹ trách nhiệm hình sự trong vụ án hình sự”. Khái niệm bào chữa chỉ định cho người dưới 18 tuổi phạm tội 1.
Khái niệm người dưới 18 tuổi Tại Điều 1 Công ước Quốc tế về quyền trẻ em có hiệu lực từ ngày 02/9/1990 quy định: “Trong phạm vi của Công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng đối với trẻ em đó quy định độ tuổi thành niên sớm hơn”, theo Công ước Quốc tế thì trẻ em phải là người dưới 18 tuổi đương nhiên sẽ được hưởng mọi quyền lợi được ghi nhận trong nội dung của Công ước, bên cạnh đó còn có Quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên Hợp quốc về việc áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên hay thường gọi là Quy tắc Bắc Kinh do Đại Hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 29/11/1985 cũng thể hiện rõ người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi, do đó đây là sự kế thừa của Công ước về quyền trẻ em. Tuy nhiên, do sự phát triển của từng quốc gia không đồng đều, nên khái niệm người chưa thành niên ở các quốc gia cũng khác nhau nên Công ước về quyền trẻ em vẫn còn nhiều điều khoản để ngỏ tùy theo từng quốc gia quy định về độ tuổi. Khái niệm người chưa thành niên và khái niệm trẻ em đều thống nhất ở giới hạn là dưới 18 tuổi, từ đó pháp luật đưa ra quy định về độ tuổi phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa truyền thống của quốc gia đó. Việc quy định độ tuổi phản ánh mục đích và tinh thần tư pháp là để quản lý những người dưới 18 tuổi phạm tội.
10 Pháp luật nước ta quy định người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi là khái niệm chung, bao gồm cho các quy định trong tố tụng hình sự, đặc thù của người dưới 18 tuổi là có sự hạn chế về nhận thức, tâm sinh lý phát triển chưa hoàn thiện. Do vậy, việc xét xử người dưới 18 tuổi phạm tội chủ yếu mang tính giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung.