Tổng quan nghiên cứu

Tình trạng người dưới 18 tuổi thực hiện hành vi cố ý gây thương tích đang là vấn đề xã hội nan giải tại các đô thị phát triển công nghiệp nhanh. Tại thành phố Biên Hòa, đô thị loại I thuộc tỉnh Đồng Nai với 6 khu công nghiệp lớn thu hút hàng trăm nghìn lao động nhập cư, tốc độ tăng dân số cơ học nhanh chóng đã kéo theo diễn biến tội phạm vị thành niên vô cùng phức tạp. Thống kê tư pháp giai đoạn 2015 - 2019 cho thấy Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa đã thụ lý 374 vụ án cố ý gây thương tích với 653 bị cáo, trong đó có 32 vụ với 80 bị cáo là người dưới 18 tuổi, chiếm tỷ lệ 8,55% tổng số vụ án xâm phạm sức khỏe trên địa bàn.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là làm sáng tỏ cơ sở lý luận của pháp luật hình sự về tội cố ý gây thương tích do người dưới 18 tuổi thực hiện, đồng thời phân tích toàn diện thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa trong giai đoạn 5 năm từ năm 2015 đến năm 2019. Luận văn đánh giá sự tương thích giữa quy định tại Điều 134 và Chương X Bộ luật Hình sự năm 2015 với thực tế xét xử sơ thẩm.

Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc chỉ ra các bất cập trong áp dụng pháp luật, từ đó đề xuất 4 nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả xét xử, bảo đảm 100% bản án đúng người, đúng tội và tối ưu hóa mục đích giáo dục, phục hồi cho người chưa thành niên vi phạm pháp luật.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên hệ thống lý luận của khoa học luật hình sự Việt Nam và học thuyết tư pháp phục hồi đối với người chưa thành niên. Cơ sở pháp lý nền tảng bao gồm Điều 20 Hiến pháp năm 2013 về quyền bất khả xâm phạm thân thể, Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về 6 khung hình phạt của tội cố ý gây thương tích, và Chương X quy định về chính sách xử lý nhân đạo đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

Bốn yếu tố cấu thành tội phạm được phân tích chi tiết:

  • Khách thể: Quyền được tôn trọng và bảo vệ sức khỏe của con người.
  • Mặt khách quan: Hành vi nguy hiểm cho xã hội tác động trái pháp luật đến thân thể người khác gây tổn thương cơ thể từ 11% đến 60% trở lên hoặc dưới 11% nhưng có tình tiết định khung.
  • Chủ thể: Người có năng lực trách nhiệm hình sự từ đủ 16 tuổi trở lên hoặc từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng theo Điều 12.
  • Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp.

Luận văn phân định ranh giới giữa tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người với tội giết người theo Điều 123 căn cứ Án lệ số 01/2016/AL, đồng thời phân biệt với tội cố ý gây thương tích khi thi hành công vụ theo Điều 137 và tội khủng bố theo Điều 299.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập trực tiếp từ 32 hồ sơ vụ án hình sự sơ thẩm với 80 bị cáo người dưới 18 tuổi do Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa thụ lý xét xử trong khung thời gian từ ngày 01/01/2015 đến ngày 31/12/2019.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 32 vụ án và 80 bị cáo, được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu toàn bộ nhằm bảo đảm tính bao quát tuyệt đối, tránh hiện tượng sai lệch thống kê khi nghiên cứu một nhóm chủ thể đặc thù. Phương pháp phân tích văn bản quy phạm pháp luật, phương pháp thống kê tư pháp, phương pháp tổng hợp và phân tích tình huống thực tiễn được lựa chọn nhằm đối chiếu sự phù hợp giữa hồ sơ thực tế và các quy định pháp luật. Việc sử dụng kết hợp các phương pháp này giúp chỉ ra chính xác các sai sót về tố tụng cũng như định lượng mức độ nghiêm khắc trong quyết định hình phạt của Tòa án cấp sơ thẩm.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát toàn bộ 32 vụ án với 80 bị cáo là người dưới 18 tuổi phạm tội cố ý gây thương tích tại thành phố Biên Hòa trong giai đoạn 2015 - 2019 ghi nhận các kết quả cụ thể:

Thứ nhất, về phân hóa định tội danh theo các khung hình phạt, có 25 vụ với 48 bị cáo bị xét xử theo khoản 1 Điều 134 (chiếm 60,0% tổng số bị cáo), 6 vụ với 31 bị cáo bị định tội theo khoản 2 (chiếm 38,75%), 1 vụ với 1 bị cáo bị định tội theo khoản 3 (chiếm 1,25%), và không ghi nhận vụ án nào thuộc khoản 4 hay khoản 5.

Thứ hai, tỷ lệ vụ án biến động qua từng năm: năm 2015 có 5 vụ (chiếm 8,2% tổng số vụ cùng loại), năm 2016 tăng lên 9 vụ (10,6%), đạt đỉnh vào năm 2017 với 13 vụ và 30 bị cáo (chiếm 15,1%), sau đó giảm xuống 3 vụ vào năm 2018 (4,3%) và 2 vụ vào năm 2019 (2,7%).

Thứ ba, đặc điểm hành vi phạm tội mang tính chất đồng phạm giản đơn rất cao. Bình quân mỗi vụ án có 2,5 bị cáo dưới 18 tuổi cùng tham gia, cao hơn đáng kể so với mức bình quân 1,74 bị cáo ở nhóm người thành niên. Điển hình như vụ án xét xử ngày 19/9/2017 theo Bản án số 248/2017/HS-ST đối với bị cáo 17 tuổi dùng dao tự chế chém gây thương tích 30% cho bị hại.

Thứ tư, thực tiễn xét xử sơ thẩm vẫn còn tồn tại sai lầm nghiêm trọng trong áp dụng thủ tục tố tụng. Điển hình tại Bản án số 153/2019/HS-ST ngày 05/4/2019, Tòa án tuyên bố đình chỉ và nhận định một bị cáo đồng phạm dùng hung khí nguy hiểm không phạm tội khi bị hại rút yêu cầu, dẫn đến việc Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phải ban hành Quyết định kháng nghị số 2304/QĐ-VKSBH và kháng nghị bổ sung số 2439/QĐ-VKSBH yêu cầu hủy một phần bản án.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh trực quan qua biểu đồ đường thể hiện xu hướng tội phạm vị thành niên đạt đỉnh vào năm 2017 với 15,1%, sau đó giảm mạnh trong giai đoạn 2018 - 2019 nhờ các đợt cao điểm tuần tra kiểm soát. Bảng cơ cấu phân loại định tội danh chứng minh phần lớn hành vi tập trung ở mức độ ít nghiêm trọng và nghiêm trọng (khoản 1 và khoản 2 chiếm 98,75%), phù hợp với quy luật tâm lý bột phát, thiếu kiềm chế của lứa tuổi thanh thiếu niên.

Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến các vụ án bắt nguồn từ sự buông lỏng quản lý của gia đình lao động nhập cư, tình trạng tụ tập kết nhóm bạo lực và sự hạn chế trong nhận thức pháp luật của người dưới 18 tuổi. Bên cạnh đó, nhận thức chưa đồng đều của một số Thẩm phán về nguyên tắc bảo đảm lợi ích tốt nhất cho người chưa thành niên theo Điều 91 Bộ luật Hình sự dẫn đến việc áp dụng hình phạt tù giam vẫn còn chiếm tỷ trọng cao thay vì các biện pháp giáo dục tại cộng đồng theo Điều 92.

Đề xuất và khuyến nghị

Để bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội cố ý gây thương tích, các cơ quan chức năng cần triển khai đồng bộ 4 nhóm giải pháp:

  • Ban hành Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 134 và Chương X Bộ luật Hình sự: Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần sớm ban hành văn bản giải thích chi tiết các tình tiết định khung như dùng hung khí nguy hiểm, có tính chất côn đồ khi áp dụng cho người chưa thành niên, hoàn thành trong giai đoạn 2021 - 2022 nhằm đạt 100% tính chuẩn xác khi định tội.
  • Chuẩn hóa quy trình tố tụng thân thiện: Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai và Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa cần tổ chức 2 khóa tập huấn chuyên sâu hàng năm cho 100% Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân về kỹ năng xét xử các vụ án có người tham gia tố tụng dưới 18 tuổi.
  • Tối ưu hóa các biện pháp phi hình phạt: Viện kiểm sát và Tòa án thành phố Biên Hòa cần ưu tiên áp dụng các biện pháp miễn trách nhiệm hình sự đi kèm khiển trách, hòa giải tại cộng đồng theo Điều 92 hoặc giáo dục tại trường giáo dưỡng từ 1 đến 2 năm theo Điều 96, phấn đấu nâng tỷ lệ áp dụng biện pháp thay thế xử lý hình sự lên mức 25% - 30% đối với các tội ít nghiêm trọng.
  • Thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành phòng ngừa tội phạm: Công an thành phố Biên Hòa phối hợp Thành đoàn và các trường Trung học phổ thông, Trung tâm giáo dục thường xuyên triển khai mô hình quản lý thanh thiếu niên có nguy cơ cao, đặt mục tiêu kéo giảm ít nhất 20% số vụ án cố ý gây thương tích do người dưới 18 tuổi thực hiện trên địa bàn trong giai đoạn 2021 - 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị thực tiễn và học thuật sâu sắc, đặc biệt hữu ích cho 4 nhóm đối tượng sau:

  • Thẩm phán, Kiểm sát viên và Điều tra viên: Cung cấp nguồn tài liệu thực chứng toàn diện về 32 vụ án thực tế, hỗ trợ quá trình đối chiếu chứng cứ, xác định đúng độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và tránh các vi phạm tố tụng nghiêm trọng trong định tội danh.
  • Luật sư và Trợ giúp viên pháp lý: Nắm vững các căn cứ miễn trách nhiệm hình sự theo Điều 29, Điều 91 và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Điều 51 Bộ luật Hình sự để xây dựng phương án bào chữa hiệu quả cho người dưới 18 tuổi.
  • Học viên cao học và sinh viên ngành Luật Hình sự: Sử dụng làm tài liệu tham khảo chất lượng về phương pháp nghiên cứu hồ sơ án sơ thẩm, kỹ thuật lập bảng thống kê tư pháp và phân tích quy phạm pháp luật thực định.
  • Cán bộ làm công tác bảo vệ trẻ em và Đoàn Thanh niên: Tiếp cận các nguyên nhân xã hội học của tội phạm để thiết kế các chương trình tuyên truyền pháp luật học đường và can thiệp sớm cho thanh thiếu niên cá biệt tại địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích trong trường hợp nào? Căn cứ Điều 12 và Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, cụ thể là các hành vi thuộc khoản 3, khoản 4 và khoản 5 Điều 134 có mức hình phạt tù từ 7 năm trở lên.

Tại sao tội cố ý gây thương tích ở người dưới 18 tuổi tại Biên Hòa có tỷ lệ đồng phạm cao? Thống kê 32 vụ án cho thấy tỷ lệ trung bình đạt 2,5 bị cáo mỗi vụ do tâm lý lứa tuổi thanh thiếu niên dễ bị kích động, lôi kéo qua mạng xã hội và các hội nhóm tụ tập đường phố tại đô thị công nghiệp, dẫn đến việc giải quyết mâu thuẫn bộc phát bằng số đông.

Tòa án có được tuyên phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người dưới 18 tuổi phạm tội này không? Khoản 5 Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015 nghiêm cấm tuyệt đối việc áp dụng hình phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, thể hiện chính sách nhân đạo sâu sắc nhằm ưu tiên cải tạo, giáo dục người chưa thành niên.

Cơ cấu định tội danh đối với người dưới 18 tuổi tại thành phố Biên Hòa phân bố ra sao? Trong giai đoạn 2015 - 2019, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa đã định tội danh theo khoản 1 cho 48 bị cáo (chiếm 60%), khoản 2 cho 31 bị cáo (chiếm 38,75%) và khoản 3 cho 1 bị cáo (chiếm 1,25%) trên tổng số 80 bị cáo.

Việc bị hại rút yêu cầu khởi tố trong vụ án cố ý gây thương tích có đồng phạm được giải quyết thế nào? Theo quy định tố tụng, nếu hành vi thuộc khoản 1 Điều 134 khởi tố theo yêu cầu của bị hại mà bị hại rút yêu cầu hợp pháp thì Tòa án đình chỉ vụ án đối với bị cáo đó; tuy nhiên, nếu có dấu hiệu thuê đánh hoặc có tổ chức (như Bản án số 153/2019/HS-ST) thì không thể tuyên không phạm tội một cách tùy tiện mà phải xem xét toàn diện cấu thành tăng nặng.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện lý luận và thực tiễn pháp lý về tội cố ý gây thương tích do người dưới 18 tuổi thực hiện theo Bộ luật Hình sự năm 2015.
  • Khảo sát chi tiết 32 vụ án với 80 bị cáo tại thành phố Biên Hòa giai đoạn 2015 - 2019, chỉ ra tỷ lệ định tội tập trung ở khoản 1 chiếm 60,0% và khoản 2 chiếm 38,75%.
  • Phát hiện và phân tích sâu sắc các hạn chế trong xét xử sơ thẩm, nổi bật là sai lầm đình chỉ vụ án đồng phạm tại Bản án số 153/2019/HS-ST dẫn đến kháng nghị của Viện kiểm sát.
  • Đóng góp hệ thống 4 nhóm giải pháp liên ngành đồng bộ nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao năng lực xét xử và tăng cường giáo dục thay thế hình phạt tù.
  • Kế hoạch nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng phạm vi khảo sát giai đoạn 2020 - 2025 để đánh giá toàn diện tác động của các chính sách tư pháp vị thành niên mới tại các vùng đô thị kinh tế trọng điểm phía Nam.