Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC PHIÊN TÒA PHÚC THẨM HÌNH SỰ 1. Những vấn đề lý luận về phiên tòa phúc thẩm hình sự trong tố tụng hình sự Việt Nam. Lý luận về phiên tòa phúc thẩm hình sự. Theo từ điển Luật học, khái niệm phiên tòa được hiểu là “hình thức hoạt động xét xử của Tòa án”[1, tr.
Trong xét xử, phiên tòa là giai đoạn đặc biệt quan trọng và mang tính quyết định trong giải quyết vụ án, thực hiện các nhiệm vụ, mục đích tố tụng đặt ra [7, tr.Với vai trò quyết định đó của phiên tòa nên pháp luật tố tụng hình sự quy định phiên tòa phải được diễn ra công khai, trực tiếp, xét xử liên tục bằng lời nói giữa các chủ thể tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng. Bởi vì, Tòa án thông qua phiên tòa, bằng thủ tục trực tiếp, công khai, qua nghe ý kiến và đề xuất của các bên tham gia tố tụng để tiến hành xác định sự thật khách quan của vụ án; phiên tòa đảm bảo sự tham gia của những người tham gia tố tụng; phiên tòa là nơi tốt nhất thực hiện việc áp dụng đúng đắn pháp luật cũng như việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật. Như vậy, phiên tòa là giai đoạn trung tâm thể hiện đầy đủ nhất bản chất quá trình tố tụng nói chung và xét xử nói riêng [7, tr. Phiên tòa bao gồm sự tham gia của những chủ thể tố tụng với địa vị pháp lý được xác định.
Bằng các trình tự thủ tục tại phiên tòa để tiến hành xác định sự thật vụ án và ra các phán quyết giải quyết vụ án một cách đúng đắn, đầy đủ, khách quan và đúng pháp luật. Mỗi quốc gia khác nhau có các thủ tục tố tụng khác nhau mang yếu tố đặc trưng cũng như truyền thống của mình. Tuy nhiên trong xã hội dân chủ, tiến bộ hiện nay, nguyên tắc hai cấp xét xử được thực hiện ở tuyệt đại đa số các nhà nước trên thế giới. Theo nguyên tắc này, bản án, quyết định sơ thẩm bị các bên tham gia tố tụng có quyền và lợi ích liên quan kháng cáo, hoặc bị Viện kiểm sát kháng nghị trong thời hạn luật định thì phải được xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
Vì vậy, trong tố tụng nói đến phiên tòa tức là nói đến phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm [7, tr17-18]. Khái niệm, đặc điểm phiên tòa phúc thẩm hình sự. * Khái niệm phiên tòa phúc thẩm hình sự. Bản chất của xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị.
Phiên tòa phúc thẩm hình sự là hình thức hoạt động xét xử của Tòa án khi xét xử phúc thẩm vụ án hình sự. * Đặc điểm phiên tòa phúc thẩm hình sự. Đặc điểm của phiên tòa phúc thẩm hình sự được phản ánh qua các vấn đề sau: Đối tượng của phiên tòa phúc thẩm hình sự, thẩm quyền xét xử phúc thẩm, chủ thể tiến hành tố tụng, nhiệm vụ của xét xử phúc thẩm và phạm vi xét xử phúc thẩm. Thứ nhất, đối tượng của phiên tòa xét xử phúc thẩm Đối tượng xét xử tại phiên tòa phúc thẩm là những vụ án mà bản án hoặc quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị nhưng trong một số trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm có thể xem xét các phần khác của bản án, quyết định không bị kháng cáo, kháng nghị nếu xét thấy cần thiết.
Thứ hai, Thẩm quyền xét xử phúc thẩm. Tòa án có thẩm quyền xét xử phúc thẩm theo quy định của BLTTHS 2015 (Điều 344) là Tòa án cấp trên trực tiếp của Tòa án đã xét xử sơ thẩm vụ án đó. Chẳng hạn như, Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị; Tòa án nhân dân cấp cao có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng cáo, kháng nghị; Tòa án quân sự cấp quân khu có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa án quân sự cấp khu vực bị kháng cáo, kháng nghị; Tòa án quân sự trung ương có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa án quân sự cấp quân khu bị kháng cáo, kháng nghị [14, tr. Việc quy định rõ về thẩm quyền xét xử phúc thẩm giúp các Tòa án nhận thức và thực hiện đúng đắn quyền hạn của mình.
7 Thứ ba, chủ thể tố tụng tại phiên tòa: Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm ba thẩm phán; Thư ký Tòa án; Viện kiểm sát cấp phúc thẩm; Những người được triệu tập tham gia phiên tòa là những người kháng cáo, người bị kháng cáo, kháng nghị và những người khác được triệu tập khi cần thiết. Thứ tư, nhiệm vụ của phiên tòa phúc thẩm: Nhiệm vụ của phiên tòa xét xử phúc thẩm hình sự là xét xử lại vụ án về mặt nội dung bị kháng cáo, kháng nghị. Phiên tòa phúc thẩm có nhiệm vụ xem xét, đánh giá lại sự thật khách quan của vụ án trên cơ sở tất cả những chứng cứ cũ và chứng cứ mới được bổ sung trong giai đoạn xét xử phúc thẩm. Trong trường hợp cần thiết, việc xét xử phúc thẩm có thể tiến hành đối với phần vụ án ngoài phạm vi kháng cáo, kháng nghị.
Ngoài việc xét xử vụ án về mặt nội dung giai đoạn phúc thẩm còn thực hiện chức năng giám đốc xét xử của Tòa án cấp trên đối với Tòa án cấp dưới, kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật. Tính hợp pháp của bản án, quyết định thể hiện ở chỗ bản án, quyết định đó phải phù hợp với những quyết định của pháp luật cả về hình thức và nội dung. Tính có căn cứ của bản án, quyết định thể hiện ở chỗ những kết luận trong bản án, quyết định phù hợp với những sự kiện thực tế của vụ án từ những chứng cứ đã được xem xét, đánh giá công khai tại tòa. Thứ năm, cơ sở tiến hành phiên tòa hình sự phúc thẩm: là có kháng nghị hoặc kháng cáo hợp pháp.
Bên cạnh phát sinh từ căn cứ mang tính chất quyền lực nhà nước là quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát còn được phát sinh bởi đơn kháng cáo của bị cáo và những đương sự khác. Thứ sáu, phạm vi xét xử của phiên tòa phúc thẩm: Theo quy định tại Khoản 2 Điều 330 BLTTHS năm 2015 về tính chất của xét xử phúc thẩm thì các quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị bao gồm: Quyết định tạm đình chỉ; Quyết định đình chỉ vụ án; Quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo và các Quyết định khác của Tòa án cấp sơ thẩm theo quy định Bộ luật này [14, tr. Việc xét xử phúc thẩm không chỉ là xét lại tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm mà trên cơ sở, tài liệu đã có trong vụ án xét xử lại 8 nội dung bản án, không chỉ trong phạm vi những phần bản án, quyết định bị kháng cáo mà có thể xem xét cả phần bản án, quyết định khác không bị kháng cáo nhưng liên quan đến việc giải quyết tổng thể vụ án mà không được làm xấu hơn tình trạng của bị cáo. Theo quy định của bộ luật TTHS thì chỉ những bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực mới bị kháng cáo.
Tuy nhiên, Tòa án cấp phúc thẩm cũng có thể xem xét những phần khác của bản án hoặc quyết định của Tòa án sơ thẩm có liên quan đến kháng cáo. Khi xét xử phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm có thể sử dụng chứng cứ mới do đương sự cung cấp hoặc do Tòa án thu thập thêm. Tất cả chứng cứ cũ và chứng cứ mới đều phải được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa. Tuy nhiên, cần phải chú ý rằng việc kháng cáo phải nhằm vào bản án, quyết định sơ thẩm.
Nếu có kháng cáo lại về những vấn đề chưa được xét xử ở cấp sơ thẩm thì Tòa án cấp phúc thẩm cũng không có trách nhiệm phải giải quyết vì không thuộc phạm vi phúc thẩm. Phạm vi xét xử phúc thẩm có ý nghĩa rất quan trọng trong việc Tòa án cấp phúc thẩm ra bản án, phạm vi xét xử quyết định giới hạn bản án phúc thẩm. Có thể nói, Tòa án cấp phúc thẩm có thể xem xét toàn bộ vụ án mà không bị hạn chế bởi nội dung kháng cáo, kháng nghị với điều kiện do luật định. Như vậy, phiên tòa phúc thẩm hình sự là hình thức hoạt động xét xử của Tòa án khi xét xử phúc thẩm vụ án hình sự.
Phiên tòa bao gồm sự tham gia của những chủ thể tố tụng với địa vị pháp lý được xác định. Bằng các trình tự thủ tục tại phiên tòa phúc thẩm hình sự để tiến hành xét lại tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm và ra các phán quyết giải quyết vụ án hình sự một cách đúng đắn, đầy đủ, khách quan và đúng pháp luật. Các chủ thể tố tụng tại phiên tòa phúc thẩm hình sự. Chủ thể tiến hành tố tụng tại phiên tòa phúc thẩm hình sự bao gồm: Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án, Viện kiểm sát.
Hội đồng xét xử Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm ba Thẩm phán được quy định tại Khoản 2, Điều 254 BLTTHS 2015. Các thành viên Hội đồng xét xử phải xét xử vụ án từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc phiên tòa. Trường hợp có Thẩm phán không tiếp tục tham gia xét xử vụ án 9 nhưng có Thẩm phán dự khuyết tham gia phiên tòa từ đầu thì những người này được thay thế làm thành viên Hội đồng xét xử. Trường hợp Thẩm phán chủ tọa phiên tòa không tiếp tục tham gia xét xử được thì Thẩm phán là thành viên Hội đồng xét xử làm chủ toạ phiên tòa và Thẩm phán dự khuyết được bổ sung làm thành viên Hội đồng xét xử.
Trường hợp không có Thẩm phán dự khuyết hoặc phải thay đổi chủ tọa phiên tòa mà không có Thẩm phán để thay thế thì phải hoãn phiên tòa.