Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận cử nhân luật học với đề tài "Tội trộm cắp tài sản trong Luật hình sự Việt Nam" do sinh viên Huỳnh Thị Minh Thư thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Lê Tường Vy (Khoa Luật Hình sự, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, năm 2017).
Về bối cảnh và lý do chọn đề tài, tác giả tiếp cận từ học thuyết tháp nhu cầu của nhà tâm lý học Abraham Maslow, trong đó nhu cầu an toàn về tài sản nằm ở tầng thứ hai – nền tảng quan trọng chỉ sau các nhu cầu sinh học cơ bản. Tài sản là thước đo giá trị lao động và là động lực phát triển xã hội, do đó các hành vi xâm phạm quyền sở hữu luôn chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu tội phạm. Về mặt khoa học pháp lý, dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về tội trộm cắp tài sản (TCTS), phần lớn các nghiên cứu trước đây chỉ tiếp cận dưới góc độ tội phạm học hoặc phân tích trên nền tảng Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1999. Những điểm mới có tính chất bước ngoặt tại BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đặt ra yêu cầu cấp thiết phải có công trình nghiên cứu toàn diện, đối chiếu giữa luật cũ và luật mới nhằm chỉ ra các vướng mắc thực tiễn và đề xuất giải pháp hoàn thiện.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về Tội TCTS, phân tích lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam qua các thời kỳ và so sánh Tội TCTS với các tội phạm có cấu thành tương đồng.
- Phân tích chuyên sâu 4 yếu tố cấu thành tội phạm và các khung trách nhiệm hình sự (TNHS) của Tội TCTS theo quy định của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Đánh giá thực trạng áp dụng quy định pháp luật về định tội danh, định khung hình phạt và quyết định hình phạt trên thực tiễn; từ đó đưa ra các kiến nghị lập pháp và hướng dẫn thi hành.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về Tội TCTS và thực tiễn xét xử, áp dụng điều luật.
- Phạm vi không gian: Khảo sát trên phạm vi toàn quốc, tập trung thu thập số liệu thực tiễn và các vụ án điển hình tại TP. Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Cần Thơ, Thanh Hóa, Nam Định, Sóc Trăng, Nha Trang.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu văn bản pháp luật từ thời kỳ phong kiến, Pháp thuộc đến BLHS 1985, BLHS 1999 (sửa đổi 2009) và trọng tâm là BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017); số liệu thực tiễn tội phạm học giai đoạn 2010 – 2015 và các bản án, quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao giai đoạn 2003 – 2015.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các quy định pháp luật thực định và nền tảng khoa học luật hình sự:
- Hệ thống văn bản pháp luật quốc gia: BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), BLHS năm 1999 (sửa đổi 2009), BLHS năm 1985; Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015; Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi 2009); Luật Các công cụ chuyển nhượng năm 2005; Luật Chứng khoán năm 2006 (sửa đổi 2010); Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010; Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP; Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP; Thông tư liên tịch số 27/2015/TTLT-BCT-BCA-VKSNDTC-TANDTC (hướng dẫn xử lý hành vi trộm cắp điện).
- Văn bản và luật học quốc tế: Công ước quốc tế về quyền trẻ em (1989); Công ước về việc bảo vệ di sản văn hóa và tự nhiên của thế giới (Công ước Heritage); BLHS Liên bang Nga (Điều 158), BLHS Malaysia (Điều 378), BLHS Đức (Điều 242); Từ điển pháp luật Merriam-Webster (1996); Bảng phân loại quốc tế về bệnh tật lần thứ 10 (ICD-10) và thang đo Y-BOCS liên quan đến hội chứng xung động trộm cắp (Kleptomania).
Phương pháp nghiên cứu được triển khai đồng bộ:
- Phương pháp luận: Vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để phân tích bản chất giai cấp và tính quy định xã hội của quy phạm pháp luật hình sự.
- Phương pháp lịch sử: Khảo cứu tiến trình lập pháp về xử lý hành vi chiếm đoạt qua các thời kỳ lịch sử của Việt Nam.
- Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu các yếu tố cấu thành của Tội TCTS với 7 tội danh khác trong Chương các tội xâm phạm sở hữu và các tội phạm chiếm đoạt có đối tượng tác động đặc thù ở các chương khác trong BLHS 2015; so sánh với quy định pháp luật nước ngoài.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Mổ xẻ từng dấu hiệu pháp lý (khách thể, đối tượng tác động, mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể, chế tài) kết hợp tổng kết thực tiễn xét xử từ các bản án thực tế và án lệ giám đốc thẩm.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề chung về Tội trộm cắp tài sản trong luật hình sự Việt Nam
Chương 1 chiếm dung lượng trọng tâm với các nội dung phân tích lý luận, lịch sử, so sánh cấu thành tội phạm và dấu hiệu pháp lý theo BLHS 2015:
- Khái niệm và đặc điểm: Tác giả đưa ra định nghĩa: "Tội TCTS là hành vi chiếm đoạt tài sản một cách lén lút gây nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý, xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác mà theo quy định của pháp luật phải bị xử lý hình sự." Tội danh mang hai đặc trưng cốt lõi: tính chiếm đoạt và tính lén lút. Phân tích tội phạm học chỉ ra:
- Địa bàn: Tập trung tại các đô thị lớn (theo Bộ Công an, 6 tháng đầu năm 2013 phát hiện 28.482 vụ phạm pháp hình sự thì 5 thành phố trực thuộc Trung ương chiếm 22,41%; giai đoạn 2010 – 2014, TP. Hồ Chí Minh ghi nhận 18.891 vụ trộm cắp, gấp hơn 6 lần tỉnh Tây Ninh với 3.096 vụ).
- Địa điểm, thời gian: 48,3% số vụ xảy ra tại khu dân cư sinh sống (7.869 vụ tại TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2010 – 2014).
- Nhân thân: Theo thống kê của PC44 Công an TP. Hồ Chí Minh (2011 – 2015), nam giới chiếm tỷ lệ áp đảo 87,56%, nữ giới chiếm 12,44%.
- Lịch sử hình thành và phát triển: Trải qua các thời kỳ: Bộ luật Hồng Đức (29/54 điều chương Đạo tặc); Bộ luật Gia Long (28 điều, ghi nhận đồng phạm tại Điều 238 và các giai đoạn thực hiện tội phạm tại Điều 234, 238); thời Pháp thuộc với Hình luật canh cải (Điều 379 định nghĩa, Điều 381, 384, 385 quy định tình tiết tăng nặng); giai đoạn sau Cách mạng Tháng Tám 1945 (Sắc lệnh 26/SL, 73/SL, 12/SL, Thông tư 26/BK, Nghị định 32/NĐ); giai đoạn sau 1954 (Thông tư 442-TTg, Sắc lệnh 267/SL, Pháp lệnh 149-LCT và 150-LCT phân biệt tài sản XHCN và tài sản công dân); BLHS 1985 (Điều 132, Điều 155); BLHS 1999 (hợp nhất đối tượng tài sản, định lượng tối thiểu 500.000 đồng, nâng lên 2.000.000 đồng năm 2009); BLHS 2015 (bổ sung trường hợp định lượng dưới 2 triệu, thêm tình tiết bảo vật quốc gia, thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh; bỏ tình tiết gây hậu quả nghiêm trọng và bỏ hình phạt tù chung thân).
- So sánh Tội TCTS với các tội danh khác trong BLHS 2015:
- So sánh trong Chương các tội xâm phạm sở hữu:
| Tội danh (Điều luật BLHS 2015) | Khách thể & Đối tượng tác động | Hành vi và thủ đoạn đặc trưng | Cấu thành tội phạm |
|---|---|---|---|
| Trộm cắp tài sản (Đ.173) | Khách thể: Quan hệ sở hữu. Đối tượng tác động: Tài sản. |
Lén lút dịch chuyển trái phép tài sản nhằm chiếm đoạt. | Cấu thành vật chất |
| Cướp tài sản (Đ.168) | Khách thể: Sở hữu + Nhân thân. Đối tượng tác động: Tài sản + Con người. |
Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc hành vi khác làm nạn nhân lâm vào tình trạng không thể chống cự. | Cấu thành hình thức |
| Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Đ.169) | Khách thể: Sở hữu + Nhân thân. Đối tượng tác động: Tài sản + Con người. |
Bắt cóc con tin kết hợp đe dọa nhằm chiếm đoạt tài sản. | Cấu thành hình thức |
| Cưỡng đoạt tài sản (Đ.170) | Khách thể: Sở hữu + Nhân thân. Đối tượng tác động: Tài sản + Con người. |
Đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần. | Cấu thành hình thức |
| Cướp giật tài sản (Đ.171) | Khách thể: Sở hữu + Nhân thân. Đối tượng tác động: Tài sản (+ Con người). |
Chiếm đoạt công khai và nhanh chóng tẩu thoát. | Cấu thành vật chất |
| Công nhiên chiếm đoạt tài sản (Đ.172) | Khách thể: Quan hệ sở hữu. Đối tượng tác động: Tài sản. |
Công khai chiếm đoạt trong hoàn cảnh chủ tài sản không có điều kiện ngăn cản. | Cấu thành vật chất |
| Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Đ.174) | Khách thể: Quan hệ sở hữu. Đối tượng tác động: Tài sản. |
Dùng thủ đoạn gian dối khiến chủ tài sản tự nguyện bàn giao tài sản. | Cấu thành vật chất |
| Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Đ.175) | Khách thể: Quan hệ sở hữu. Đối tượng tác động: Tài sản. |
Nhận tài sản hợp pháp qua hợp đồng rồi gian dối, bỏ trốn hoặc cố tình không trả để chiếm đoạt. | Cấu thành vật chất |
* *Phân biệt với các tội có tính chiếm đoạt ở chương khác:* Dựa vào đối tượng tác động chuyên biệt như thư tín (Điều 159), ma túy (Điều 252), tiền chất (Điều 253), tàu bay/tàu thủy (Điều 282), vũ khí quân dụng (Điều 304), vật liệu nổ (Điều 305), súng săn/vũ khí thô sơ (Điều 306), chất phóng xạ/hạt nhân (Điều 309), thi thể/mồ mả (Điều 319), tài liệu bí mật nhà nước (Điều 337), con dấu/tài liệu cơ quan (Điều 342) và chủ thể đặc thù (người có chức vụ quyền hạn tại Điều 353, 355; quân nhân tại Điều 405, 418, 419).
- Dấu hiệu pháp lý của Tội TCTS (Điều 173 BLHS 2015):
- Khách thể & Đối tượng tác động: Khách thể trực tiếp là quan hệ sở hữu. Đối tượng tác động là tài sản gồm động sản, vật (bao gồm điện năng từ 20.000 kWh trở lên theo TTLT 27/2015), tiền, giấy tờ có giá vô danh. Không bao gồm quyền tài sản, giấy tờ có giá ghi danh, sổ tiết kiệm, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. BLHS 2015 ghi nhận thêm đối tượng đặc thù: phương tiện kiếm sống chính (điểm d khoản 1), di vật, cổ vật (điểm đ khoản 1), bảo vật quốc gia (điểm e khoản 2). Tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng không thỏa mãn dấu hiệu "tài sản của người khác" nên hành vi chiếm đoạt của một bên vợ/chồng không cấu thành Tội TCTS trên toàn bộ khối tài sản chung đó.
- Mặt khách quan: Hành vi chiếm đoạt lén lút. Thời điểm hoàn thành xác định theo tính chất vật lý của tài sản: (1) Tài sản gọn nhỏ: hoàn thành khi đã dịch chuyển khỏi vị trí cất giữ và giấu vào người hoặc vật mang theo; (2) Tài sản cồng kềnh: hoàn thành khi đưa ra khỏi khu vực bảo quản; (3) Tài sản ở nơi không hình thành khu bảo quản riêng: hoàn thành khi dịch chuyển khỏi vị trí ban đầu. Thủ đoạn lén lút có thể là che giấu với tất cả mọi người hoặc chỉ che giấu với chủ tài sản, hoặc che giấu tính phi pháp của hành vi (vụ giả danh thợ điện cắt trộm cáp, vụ giả người nhà bệnh nhân trộm cắp tại bệnh viện).
- Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp và mục đích chiếm đoạt (bắt buộc). Trường hợp nhầm lẫn tài sản giả (tưởng vàng thật nhưng trộm nhầm vàng giả trưng bày), áp dụng tinh thần TTLT 02/2001 căn cứ vào ý thức chủ quan hướng tới giá trị tài sản thật để định tội.
- Chủ thể: Thể nhân có năng lực TNHS và đạt độ tuổi luật định (từ đủ 16 tuổi chịu TNHS mọi khoản; từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi chỉ chịu TNHS khoản 3, khoản 4 theo Điều 12 BLHS 2015). Không áp dụng đối với pháp nhân thương mại. Phân tích hội chứng tâm thần xung động trộm cắp (Kleptomania - tỷ lệ mắc 0,6% tại Hoa Kỳ, tỷ lệ nữ:nam là 3:1) và khẳng định việc loại trừ TNHS phải căn cứ kết luận giám định tư pháp tại thời điểm gây án.
- Trách nhiệm hình sự: Phân tích chi tiết định lượng và khung hình phạt theo Điều 173 BLHS 2015:
- Khoản 1: Chiếm đoạt từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc 5 trường hợp đặc biệt (điểm a: đã bị xử phạt VPHC về hành vi chiếm đoạt; điểm b: đã bị kết án về tội chiếm đoạt chưa xóa án tích; điểm c: gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; điểm d: tài sản là phương tiện kiếm sống chính; điểm đ: tài sản là di vật, cổ vật). Khung hình phạt: cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
- Khoản 2 (Phạt tù từ 02 đến 07 năm): Chiếm đoạt từ 50 triệu đến dưới 200 triệu đồng; phạm tội có tổ chức; có tính chất chuyên nghiệp; dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm; hành hung để tẩu thoát; tài sản là bảo vật quốc gia; tái phạm nguy hiểm.
- Khoản 3 (Phạt tù từ 07 đến 15 năm): Chiếm đoạt từ 200 triệu đến dưới 500 triệu đồng; lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
- Khoản 4 (Phạt tù từ 12 đến 20 năm): Chiếm đoạt từ 500 triệu đồng trở lên; lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
- Khoản 5: Hình phạt bổ sung (phạt tiền từ 5 triệu đến 50 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm).
Chương 2: Thực trạng áp dụng quy định về Tội trộm cắp tài sản trong Luật hình sự Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện
Chương 2 tập trung phản ánh các vướng mắc thực tiễn và đưa ra các đề xuất hoàn thiện:
- Thực tiễn áp dụng:
- Về định tội danh: Xảy ra nhầm lẫn trong các vụ án chuyển hóa tội phạm (từ lén lút chuyển sang công khai, dùng vũ lực hoặc uy hiếp); xử lý hành vi chiếm đoạt tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng (dẫn chứng bản án số 52/2012/HSST của TAND tỉnh Tây Ninh bị Tòa phúc thẩm TAND Tối cao hủy án do không bóc tách tài sản chung - riêng); xử lý hành vi chiếm đoạt sổ tiết kiệm, giấy tờ chứng nhận quyền tài sản.
- Về định khung và quyết định hình phạt: Khó khăn trong việc định giá tài sản không có giá thị trường (cổ vật, di vật); vướng mắc khi áp dụng các tình tiết định tính mới như "gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội", "phương tiện kiếm sống chính"; sự trùng lặp giữa các tình tiết định khung tăng nặng tại Điều 173 với các tình tiết tăng nặng chung tại Điều 52 BLHS 2015.
- Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật:
- Kiến nghị ban hành văn bản hướng dẫn: Đề xuất Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao sớm ban hành Nghị quyết thay thế TTLT 02/2001 để giải thích cụ thể các tiêu chí định tính mới tại khoản 1 Điều 173 (tiêu chí xác định phương tiện kiếm sống chính, mức độ ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, căn cứ xác định di vật, cổ vật).
- Kiến nghị loại trừ sự chồng chéo quy định: Hướng dẫn áp dụng nguyên tắc cấm tính hai lần đối với các tình tiết vừa là tình tiết định khung tăng nặng (khoản 2, 3, 4 Điều 173) vừa là tình tiết tăng nặng TNHS chung (Điều 52).
- Kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định: Nghiên cứu cơ chế định lượng giá trị tài sản linh hoạt theo mức lương cơ sở hoặc chỉ số giá tiêu dùng để bảo đảm tính ổn định lâu dài của BLHS, khắc phục tình trạng phải liên tục sửa đổi định lượng bằng tiền mặt tuyệt đối.
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu chính
- Tổng hợp dữ liệu tội phạm học: Khóa luận ghi nhận bức tranh tội phạm TCTS tại Việt Nam với số liệu thực tế: trong 6 tháng đầu năm 2013 cả nước xảy ra 28.482 vụ phạm pháp hình sự (5 thành phố lớn chiếm 22,41%); tại TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2010 – 2014 xảy ra 18.891 vụ TCTS (chiếm 62,26% tổng số tội phạm xâm phạm sở hữu); tỷ lệ tội phạm nam giới là 87,56% so với nữ giới là 12,44% (PC44 TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2011 – 2015).
- Làm rõ ranh giới pháp lý của đối tượng tác động: Phân định rõ ràng đối tượng tác động của Tội TCTS theo Điều 105 BLDS 2015 chỉ bao gồm động sản, vật chất hữu hình (bao gồm điện năng $\ge 20.000$ kWh), tiền và giấy tờ có giá vô danh. Loại trừ quyền tài sản, giấy tờ có giá ghi danh và sổ tiết kiệm ra khỏi đối tượng tác động trực tiếp của tội danh này.
- Chuẩn hóa thời điểm tội phạm hoàn thành: Xác lập 3 tiêu chí phân định thời điểm hoàn thành hành vi chiếm đoạt gắn liền với cấu thành vật chất dựa trên đặc tính của tài sản (gọn nhỏ, cồng kềnh, không có nơi bảo quản riêng).
Đóng góp của đề tài
- Đây là một trong những công trình nghiên cứu khóa luận sớm nhất tại thời điểm năm 2017 tiếp cận có hệ thống các điểm mới của Tội TCTS theo BLHS năm 2015 và Luật sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Khắc phục khoảng trống lý luận của các đề tài trước đây (vốn chỉ khảo sát trên nền tảng BLHS 1999 hoặc thuần túy tội phạm học), kết hợp nhuần nhuyễn giữa phân tích quy phạm hình sự mới với các vụ án thực tế và quyết định giám đốc thẩm của TAND Tối cao giai đoạn 2003 – 2015.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do hoàn thành vào năm 2017 – thời điểm BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) vừa được thông qua và chuẩn bị có hiệu lực thi hành, phần lớn số liệu thực tiễn và án lệ giám đốc thẩm trong khóa luận được khảo cứu từ giai đoạn 2003 – 2015 dưới thời kỳ áp dụng BLHS 1999. Khóa luận chưa thể đánh giá toàn diện số liệu xét xử thực tế của các Tòa án theo các quy định mới của BLHS 2015 trên diện rộng.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu thực tiễn áp dụng BLHS 2015 sau khi luật đi vào đời sống; khảo sát chuyên sâu về tội phạm trộm cắp sử dụng công nghệ cao quy định tại Điều 290 BLHS 2015; đánh giá hiệu quả của các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ mới từ Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự; các cán bộ thực tiễn công tác tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và các luật sư tranh tụng trong các vụ án xâm phạm sở hữu.
- Nội dung tham khảo giá trị:
- Hệ thống bảng so sánh dấu hiệu pháp lý giữa Tội TCTS với 7 tội danh xâm phạm sở hữu và các tội phạm chiếm đoạt đặc thù.
- Phần luận giải chuyên sâu về phân định tài sản chung hợp nhất của vợ chồng trong định tội danh và xử lý hành vi trộm cắp sổ tiết kiệm/giấy tờ có giá ghi danh.
- Phụ lục tổng hợp các quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao giai đoạn 2003 – 2015 về Tội TCTS.
Câu hỏi thường gặp
1. Hành vi trộm cắp sổ tiết kiệm trị giá 100 triệu đồng cùng 1,5 triệu đồng tiền mặt có bị truy cứu TNHS về Tội trộm cắp tài sản với giá trị 101,5 triệu đồng hay không? Không. Căn cứ quy định của BLDS và pháp luật chuyên ngành, sổ tiết kiệm không phải là giấy tờ có giá mà chỉ là chứng từ chứng nhận quyền sở hữu tài sản (quyền tài sản), gắn liền với cá nhân người đứng tên. Sổ tiết kiệm không thể là đối tượng tác động của Tội TCTS. Giá trị tài sản bị xâm hại trực tiếp chỉ là 1,5 triệu đồng tiền mặt; do dưới định lượng 2 triệu đồng nên đối tượng chỉ bị xử phạt hành chính (nếu không thuộc 5 trường hợp đặc biệt). Nếu sau đó đối tượng dùng sổ tiết kiệm gian dối rút tiền tại ngân hàng thì hành vi này mới cấu thành Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS).
2. Thời điểm hoàn thành của Tội trộm cắp tài sản được xác định như thế nào đối với các loại tài sản khác nhau? Thời điểm hoàn thành được xác định theo 3 trường hợp:
- Tài sản gọn nhỏ (tiền, ví, điện thoại, vàng): Hoàn thành ngay khi người phạm tội dịch chuyển tài sản khỏi vị trí cất giữ và giấu vào người hoặc túi xách mang theo, dù chưa rời khỏi hiện trường.
- Tài sản cồng kềnh (hàng hóa lớn, bao phân bón): Hoàn thành khi người phạm tội đã mang tài sản ra khỏi khu vực bảo quản (như kho bãi, khuôn viên bảo vệ).
- Tài sản ở nơi không hình thành khu bảo quản riêng (xe máy để lề đường, gia súc chăn thả): Hoàn thành ngay khi người phạm tội dịch chuyển tài sản khỏi vị trí ban đầu mà chủ sở hữu đã để.
3. Người có hành vi lén lút lấy tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng có bị truy cứu TNHS về Tội trộm cắp tài sản đối với toàn bộ khối tài sản đó không? Không bị truy cứu TNHS đối với phần tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất. Theo Điều 210 BLDS 2015 và Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, các chủ sở hữu chung hợp nhất có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản chung. Khi một bên vợ/chồng lấy tài sản chung thì không thỏa mãn dấu hiệu "chiếm đoạt tài sản của người khác". Cơ quan tiến hành tố tụng phải bóc tách, xác định chính xác phần tài sản thuộc sở hữu riêng của người bị hại để làm căn cứ định tội và định khung hình phạt (tương tự phán quyết hủy án sơ thẩm của Tòa phúc thẩm TAND Tối cao trong vụ án Nguyễn Thanh Cần tại Tây Ninh).
4. Theo BLHS 2015, người trộm cắp tài sản có giá trị dưới 2.000.000 đồng bị xử lý hình sự trong những trường hợp cụ thể nào? Căn cứ khoản 1 Điều 173 BLHS 2015, hành vi trộm cắp tài sản dưới 2 triệu đồng bị xử lý hình sự nếu thuộc 1 trong 5 trường hợp:
- Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
- Đã bị kết án về tội trộm cắp hoặc một trong các tội quy định tại các Điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của BLHS 2015, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
- Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
- Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;
- Tài sản là di vật, cổ vật.
5. Người có ý định trộm cắp vàng thật nhưng thực tế lại lấy nhầm số vàng giả dùng để trưng bày thì việc truy cứu TNHS được giải quyết như thế nào? Căn cứ tinh thần Mục II.2 Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP, khi có đầy đủ căn cứ chứng minh người phạm tội có ý định chiếm đoạt tài sản có giá trị cụ thể theo ý thức chủ quan của họ (nghĩ là vàng thật), thì cơ quan tố tụng sẽ lấy giá trị của số tài sản đó nếu là vàng thật trên thị trường tại thời điểm phạm tội để xem xét định tội danh và quyết định khung hình phạt.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật học của tác giả Huỳnh Thị Minh Thư là công trình nghiên cứu hệ thống và chuyên sâu về Tội trộm cắp tài sản trong luật hình sự Việt Nam trên cả phương diện lý luận, lịch sử lập pháp và thực tiễn xét xử. Khóa luận đã phân tích sâu sắc các dấu hiệu pháp lý bắt buộc, phân định ranh giới giữa Tội trộm cắp tài sản với các tội phạm xâm phạm sở hữu lân cận theo tinh thần đổi mới của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Thông qua việc tổng kết thực tiễn áp dụng và chỉ ra những điểm nghẽn trong kỹ thuật lập pháp định lượng, công trình đã đề xuất các giải pháp hoàn thiện có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác lập pháp và hoạt động tư pháp hình sự.