Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tội trộm cắp tài sản và định khung của tội trộm cắp tài sản; Chương 2: Quy định của Bộ luật hình sự Việt nam năm 2015 về các tình tiết tăng nặng định khung của tội trộm cắp tài sản và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Đắk Lắk; Chương 3: Những yêu cầu và các giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm áp dụng đúng quy định về các tình tiết tăng nặng định khung của tội trộm sản theo Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015. 7 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC TÌNH TIẾT TĂNG NẶNG ĐỊNH KHUNG CỦA TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN 1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của các tình tiết tăng nặng định khung của tội Trộm cắp tài sản 1. Khái niệm các tình tiết tăng nặng định khung của tội Trộm cắp tài sản Qua nghiên cứu, thấy hầu hết các tác giả chỉ mới đưa ra khái niệm cơ bản về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nói chung, chưa đưa ra một khái niệm hoàn chỉnh về các tình tiết tăng nặng định khung một các cụ thể.
Có thể thấy, tình tiết tăng nặng định khung là một dạng tình tiết tăng nặng TNHS nhưng có tính chất đặc biệt hơn, khi chủ thể của phạm tội thỏa mãn tình tiết trên, nếu điều luật có quy định đây là tình tiết làm thay đổi khung hình phạt của tội danh đó theo hướng tăng lên thì nó được coi là tình tiết tăng nặng định khung và nó chỉ được áp dụng để định khung hình phạt, không được áp dụng như một tình tiết tăng nặng TNHS thông thường. Các tình tiết tăng nặng định khung là các tình tiết thuộc mặt khách quan, chủ quan cũng như nhân thân của người phạm tội, thể hiện tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được tăng lên đáng kể, mà khi có các tình tiết đó người phạm tội phải chịu TNHS ở khung hình phạt cao hơn trong cùng một Điều luật tương ứng. Trong tội Trộm cắp tài sản theo BLHS năm 2015, các tình tiết tăng nặng định khung là những tình tiết được quy định tại từ khoản 2 đến khoản 4 của Điều 173 BLHS năm 2015. Đối với tội trộm cắp tài sản, khi xác định hành vi của người phạm tội thỏa mãn tình tiết tăng nặng định khung nào đó, trước tiên hành vi của họ phải thỏa mãn cấu thành cơ bản được quy định tại khoản 1 của tội Trộm cắp tài sản.
8 Từ những phân tích trên, tác giả đưa ra khái niệm cơ bản của các tình tiết tăng nặng định khung của tội trộm cắp tài sản như sau: “Các tình tiết tăng nặng định khung của tội Trộm cắp tài sản là các tình tiết phạm tội mà làm tăng mức độ nguy hiểm cho xã hội nói chung, được xem xét trong cùng một tội phạm, Trách nhiệm hình sự đối với loại tội phạm này cũng cao hơn, điều đó được biểu thị qua chế tài và được quy định ở mức hình phạt cao nhất đối với khung hình phạt. Các tình tiết tăng nặng định khung của tội Trộm cắp tài sản thuộc mặt khách quan, chủ quan cũng như nhân thân của người phạm tội, thể hiện tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi do người phạm tội thực hiện, mà khi có các tình tiết đó người phạm tội phải chịu TNHS ở khung hình phạt cao hơn được quy định trong cùng tội Trộm cắp tài sản”. Các đặc điểm của các tình tiết tăng nặng định khung đối với tội trộm cắp tài sản Xuất phát từ khái niệm đã nêu trên và phân tích các quy định của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có liên quan đến các tình tiết tăng nặng định khung đối với các tội xâm phạm sở hữu nói chung, tội trộm cắp tài sản nói riêng và thực tiễn áp dụng, có thể chỉ ra một số đặc điểm cơ bản của các tình tiết tăng nặng định khung đối với tội trộm cắp tài sản như sau: - Tình tiết tăng nặng định khung của tội trộm cắp tài sản được quy định trong pháp luật hình sự thực định (Bộ luật hình sự). - Tình tiết tăng nặng định khung của tội trộm cắp tài sản chỉ làm thay đổi mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội trộm cắp tài theo hướng nghiêm khắc hơn và chỉ trong phạm vi một cấu thành tội phạm cụ thể tương ứng, chứ không làm thay đổi tính chất của tội phạm ấy.
Quy định là vậy, nhưng thực tế khi áp dụng tình tiết tăng nặng này còn nhiều khó khăn, mang tính tùy nghi. Vì chưa có hướng dẫn cụ thể nên vẫn còn 9 nhiều quan điểm đối lập, do đó việc áp dụng tình tiết tăng nặng này trong từng vụ án chưa có sự thống nhất, đặc biệt là trong việc áp dụng tình tiết tăng nặng định khung của tội Trộm cắp tài sản. Ý nghĩa của các tình tiết tăng nặng định khung của tội Trộm cắp tài sản Ý nghĩa về mặt pháp lý: Các tình tiết tăng nặng định khung của tội Trộm cắp tài sản có vai trò quan trọng trong việc đánh giá mức độ nguy hiểm đối với xã hội của hành vi Trộm cắp tài sản đã thực hiện và cụ thể hóa hình phạt. Là một trong những yếu tố quan trọng để xác định mức độ trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.
Tình tiết tăng nặng định khung của tội trộm cắp tài sản giúp cho Tòa án xác định loại tội phạm đúng với bản chất và sẽ áp dụng những khung hình phạt tương ứng, đưa ra mức hình phạt đúng với bản chất, thực tế khách quan của người phạm tội. Như vậy có thể nói, việc xem xét các tình tiết tăng nặng TNHS nói chung và các tình tiết tăng nặng định khung có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc quyết định hình phạt. Ý nghĩa về mặt chính trị: Bộ luật Hình sự là đạo luật quan trọng nhất của nước ta quy định về tội phạm và hình phạt nhằm điều chỉnh các mối quan hệ trên mọi mặt của xã hội, có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, trật tự xã hội, bảo vệ các quyền lợi và lợi ích hợp pháp của công dân, chống mọi hành vi phạm tội, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm. Quy định các tình tiết tăng nặng định khung của tội trộm cắp tài sản nhằm cá thể hóa tội phạm, thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước ta trong việc giáo dục, ngăn ngừa tội phạm.
Bộ luật hình sự nước ta quy định các tình tiết định khung của một tội danh cụ thể nói chung, của tội Trộm cắp tài sản nói riêng mục đích để cá thể hóa tội phạm. Phân loại các tình tiết tăng nặng định khung của tội trộm cắp tài sản 1. Phân loại theo cấu thành của tội phạm 1. Các tình tiết tăng nặng định khung của tội trộm cắp tài sản theo chủ thể của tội phạm Về lý luận, rõ ràng tình tiết tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự và tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đều là tình tiết hình sự.
Nếu dựa vào ý nghĩa, tầm quan trọng của tình tiết hình sự đối với cấu thành tội phạm cụ thể và hậu quả pháp lý khi các tình tiết thỏa mãn dấu hiệu cấu thành tội phạm thì tình tiết hình sự được phân thành: (1) tình tiết định tội; (2) tình tiết định khung hình phạt; (3) tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; … Trong đó, tình tiết định khung hình phạt là những tình tiết của tội phạm phù hợp và thỏa mãn dấu hiệu định khung hình phạt (cấu thành tội phạm tăng nặng hoặc giảm nhẹ) của những tội phạm cụ thể; còn tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là các tình tiết hình sự phản ánh mức độ nguy hiểm hơn của hành vi phạm tội so với trường hợp phạm tội thông thường khác mà không có những tình tiết hình sự này. Dựa vào quy định của Bộ luật Hình sự và thực tiễn áp dụng, tình tiết định khung hình phạt và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự có những điểm khác nhau cơ bản: Thứ nhất, nếu như tình tiết định khung hình phạt được vận dụng để xác định hành vi phạm tội phạm vào khoản nào của điều luật quy định tội phạm cụ thể, là căn cứ phân hóa trách nhiệm hình sự thì tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự lại là căn cứ quyết định hình phạt, cá thể hóa trách nhiệm hình sự khi có hành vi phạm vào tội phạm cụ thể. Thứ hai, nếu tình tiết định khung hình phạt chỉ áp dụng đối với từng tội phạm cụ thể thì tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự có thể áp dụng cho tất cả các tội phạm hoặc nhiều tội phạm khác nhau. 11 Thứ ba, về căn cứ áp dụng, tình tiết định khung hình phạt được quy định trong cấu thành tăng nặng hoặc giảm nhẹ do điều luật về tội phạm cụ thể trong Bộ luật Hình sự quy định; còn tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định duy nhất tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Thứ tư, tùy thuộc vào từng tội phạm khác nhau mà vai trò của tình tiết hình sự được biểu hiện khác nhau. Có tình tiết hình sự là yếu tố định khung hình phạt ở tội này nhưng ở tội khác chúng chỉ là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Qua thực tiễn và quy định tại một số tội phạm cụ thể khác của Bộ luật Hình sự, tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” với tình tiết định lượng là dấu hiệu định khung vẫn được quy định trong cùng điều luật. Có nghĩa rằng, việc cộng giá trị định lượng của các lần phạm tội để xem xét là tình tiết định khung hình phạt không ảnh hưởng đến việc có áp dụng tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” là tình tiết định khung hay là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội hay không.
Trong quá trình áp dụng tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” chỉ được xem là tình tiết định khung khi chúng được quy định rõ trong khung hình phạt tăng nặng của điều luật quy định về tội phạm cụ thể. Chúng ta không được suy đoán từ nguyên nhân, kết quả của tình tiết khác để cho rằng tình tiết “phạm tội nhiều lần” là tình tiết định khung khi điều luật đó không quy định.