Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bảo vệ các quyền con người bằng chế định đồng phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam. Chương 2: Thực tiễn bảo vệ quyền con người bằng chế định đồng phạm theo Bộ luật Hình sự năm 2015 trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk (giai đoạn 2018 -2022). Chương 3: Hoàn thiện chế định đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam nhằm bảo vệ các quyền con người. 7 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ CÁC QUYỀN CON NGƢỜI BẰNG CHẾ ĐỊNH ĐỒNG PHẠM THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.
Khái niệm đồng phạm, các hình thức đồng phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam 1. Khái niệm đồng phạm Nghiên cứu lịch sử lập pháp hình sự của nước ta, chúng ta thấy vấn đề đồng phạm đã được luật hình sự Việt Nam quy định từ rất sớm. Trong thời kỳ từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước pháp điển hóa lần thứ nhất, luật hình sự Việt Nam mới chỉ xem xét đồng phạm ở một số khía cạnh trừng trị tội phạm và chưa quy định về khái niệm đồng phạm. Lần đầu tiên khái niệm đồng phạm chính thức được quy định tại khoản 1 Điều 17 BLHS năm 1985: "Hai hoặc nhiều người cố ý cùng thực hiện một tội phạm là đồng phạm", để khắc phục hạn chế trong kỹ thuật lập pháp nêu trên BLHS năm 1999 sửa đổi khái niệm đồng phạm: "Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm".
Khoản 1 Điều 17 BLHS năm 2015, sửa đổi năm 2017 (được viết tắt là BLHS năm 2015) đã kế thừa toàn bộ định nghĩa của BLHS năm 1999 về đồng phạm: “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.” Trên cơ sở khái niệm đồng phạm được quy định tại khoản 1 Điều 20 BLHS năm 1999 và khoản 1 Điều 17 BLHS năm 2015 cho thấy đồng phạm đòi hỏi phải có các dấu hiệu phản ánh mối liên hệ về mặt khách quan và mặt chủ quan chung, bắt buộc như sau: Về mặt khách quan Thứ nhất, đồng phạm đòi hỏi phải có sự tham gia của hai người trở lên vào việc thực hiện một hay nhiều tội phạm; dấu hiệu về số lượng chủ thể là 8 vấn đề đáng lưu ý nhất trong vụ án đồng phạm. Những chủ thể này phải thỏa mãn các dấu hiệu của chủ thể của tội phạm. Trong vụ án có nhiều người tham gia thực hiện, nhưng chỉ có một người thỏa mãn các điều kiện của chủ thể của tội phạm như nêu trên, Còn người khác hoặc những người khác không thỏa mãn điều kiện chủ thể tội phạm thì không thể coi là vụ án đồng phạm, mà được coi là phạm tội đơn lẻ. Những vụ án có nhiều người tham gia thực hiện tội phạm, nếu có hai người trở lên thỏa mãn điều kiện về chủ thể tội phạm và các dấu hiệu khác của đồng phạm, có người không thỏa mãn dấu hiệu chủ thể tội phạm, thì vụ án đó vẫn được xác định là có đồng phạm.
Người không thỏa mãn dấu hiệu chủ thể tội phạm thì không bị coi là người đồng phạm. Thứ hai, những người đồng phạm đòi hỏi phải cùng chung hành động hay liên hiệp, phối hợp hành động của những người tham gia vào việc thực hiện tội phạm. Nghĩa là, mỗi người đồng phạm phải có ít nhất một trong các hành vi tham gia vào việc thực hiện tội phạm, hoặc là hành vi thực hành, hoặc là hành vi tổ chức, hoặc là hành vi giúp sức, hoặc là hành vi xúi giục. Thứ ba, giữa hành vi phạm tội của mỗi người và hậu quả phạm tội chung xảy ra nhất thiết phải có mối quan hệ nhân quả.
Nghĩa là, dù trực tiếp hay gián tiếp, hành vi của những người đồng phạm đều là nguyên nhân gây ra hậu quả chung của vụ án. Về mặt chủ quan Thứ nhất, đồng phạm phải có sự cùng cố ý. Sự cùng cố ý được thể hiện trên hai mặt lý trí và ý chí như sau: (i) Về lý trí Một là, mỗi người đồng phạm đều nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình. Hai là, mỗi đồng phạm cũng phải nhận thức được người đồng phạm khác cũng có hành vi nguy hiểm cho xã hội cùng với mình.
9 Ba là, mỗi người đồng phạm thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình cũng như hậu quả chung của những người cùng tham gia phạm tội. (ii) Về ý chí: Mặc dù nhận thức được như các ý nêu trên nhưng các đồng phạm vẫn thực hiện hành vi của mình, cùng mong muốn có hoạt động phạm tội chung và cùng mong muốn hoặc có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra. Trong vụ án đồng phạm thì lỗi của các đồng phạm là lỗi cố ý trực tiếp hoặc lỗi cố ý gián tiếp [23, tr. Thứ hai, về mục đích phạm tội trong đồng phạm: đối với những tội có mục đích phạm tội là dấu hiệu bắt buộc, thì những người đồng phạm phải có cùng mục đích (hoặc tiếp nhận mục đích) phạm tội đó.
Nếu không thỏa mãn dấu hiệu này thì không có đồng phạm. Dựa vào bản chất pháp lý của đồng phạm, qua các dấu hiệu khách quan và chủ quan của đồng phạm cho thấy khái niệm đồng phạm trong PLHS nước ta còn có nhiều điểm hạn chế. Theo đó, sau đây là hai quan điểm nổi bật về đồng phạm: Theo GS. Lê Văn Cảm thì “đồng phạm là hình thức phạm tội do cố ý được thực hiện với sự cố ý cùng tham gia của 02 người trở lên” [11, tr.422] hay “đồng phạm là hình thức phạm tội do cố ý được thực hiện với sự cố ý cùng tham gia của từ 02 chủ thể phạm tội trở lên” [11, tr.
Trịnh Tiến Việt thì “đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng tham gia vào việc thực hiện một hay nhiều tội phạm do cố ý” [30, tr. Trên cơ sở tham khảo quan điểm của các tác giả và qua các dấu hiệu cơ bản của đồng phạm thì theo quan điểm của tác giả khái niệm khoa học về đồng phạm có thể được hiểu như sau: “Đồng phạm là hình thức phạm tội có từ hai người trở lên cố ý cùng tham gia vào việc thực hiện tội phạm do cố ý”. Các hình thức đồng phạm Việc phân tích khoa học các quy phạm pháp luật có liên quan đến đồng phạm và thực tiễn, đồng phạm có thể phân thành 03 hình thức đồng phạm: (1) đồng phạm đơn giản, (2) đồng phạm phức tạp, (3) đồng phạm đặc biệt hay còn gọi là phạm tội có tổ chức [11, tr. a) Đồng phạm đơn giản Theo GS.
Lê Văn Cảm thì hình thức đồng phạm đơn giản có thể được hiểu “là hình thức phạm tội không có sự thông mưu trước của những người cùng thực hiện tội phạm” [11, tr. Lý luận luật hình sự và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự thì hình thức đồng phạm đơn giản có đặc điểm riêng về mặt khách quan và chủ quan với các dấu hiệu cơ bản sau: Về mặt khách quan, trong trường hợp này, những người tham gia không bàn bạc cũng như sự phân công vai trò, mà tất cả đều tham gia với vai trò là người thực hành (đồng thực hành), nghĩa là bằng hành vi của mình (một cách trực tiếp hoặc gián tiếp) thực hiện tội phạm. Về mặt chủ quan, trong trường hợp này, những người tham gia không có sự thông mưu trước mà chỉ biết về hành động của những người còn lại tại thời điểm bắt đầu và trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội. b) Đồng phạm phức tạp Đồng phạm phức tạp là một trong các loại đồng phạm được chia theo dấu hiệu khách quan.
Đây là loại đồng phạm trong đó giữa những người đồng phạm có sự phân công vai trò, gồm: người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức. Trong đồng phạm phức tạp, ngoài người giữ vai trò là người thực hành, là người trực tiếp thực hiện tội phạm còn có những người khác tham gia giữ các vai trò khác nhau: tổ chức, xúi giục hoặc giúp sức… Lý luận luật hình sự và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự thì hình thức đồng phạm phức tạp có đặc điểm riêng về mặt khách quan và chủ quan với các dấu hiệu cơ bản sau: 11 Về mặt khách quan, những người đồng phạm có sự bàn bạc trước về kế hoạch thực hiện tội phạm và giữa những người đồng phạm cũng có sự phân công vai trò, mặc dù sự bàn bạc và phân công này chưa cụ thể và đầy đủ lắm như trong hình thức đồng phạm đặc biệt, vì nói chung trong nhiều trường hợp họ đều có vai trò là những người cùng thực hiện tội phạm bằng chính hành vi của mình. Về mặt chủ quan, sự cố ý cùng cấu kết của những người phạm tội trong quá trình bàn bạc kế hoạch và phân công vai trò đã tạo nên mối liên hệ ở một mức độ nhất định mặc dù có thể chưa chặt chẽ và bền vững đến mức như trong hình thức đồng phạm đặc biệt. c) Đồng phạm đặc biệt (phạm tội có tổ chức) Đồng phạm đặc biệt (hay phạm tội có tổ chức) là hình thức đồng phạm có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.
Thực tiễn cho thấy, phạm tội có tổ chức nếu hiểu một cách đầy đủ và toàn diện hơn đó là “hình thức phạm tội đặc biệt có sự cấu kết chặt chẽ của những người cùng tham gia vào việc thực hiện tội phạm hoặc của các thành viên cùng một tổ chức tội phạm” [11, tr. Hình thức đồng phạm đặc biệt (phạm tội có tổ chức) có đặc điểm riêng về mặt khách quan và chủ quan với các dấu hiệu cơ bản sau: Về mặt khách quan, các dấu hiệu đặc trưng chung của đồng phạm đặc biệt (phạm tội có tổ chức) là: - Trước khi phạm tội, thông thường đã hình thành một tổ chức tội phạm với các quy mô lớn, nhỏ khác nhau của những người cùng có ý định phạm tội. - Tổ chức tội phạm đó thường tồn tại một khoảng thời gian đủ dài nhằm thực hiện nhiều tội phạm (hay phạm tội nhiều lần); - Có sự thỏa thuận, bàn bạc kỹ lưỡng trước về kế hoạch thực hiện tội phạm và giữa những người đồng phạm có sự phân công vai trò rất cụ thể. 12 Về mặt chủ quan, các dấu hiệu đặc trưng chung của đồng phạm đặc biệt (phạm tội có tổ chức) là: - Theo TSKH.