Chương 1: Khái quát chung về bảo vệ quyền con người bằng chế định lớn về tội phạm trong Phần chung luật hình sự. Chương 2: Chế định lớn về tội phạm trong Phần chung Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 với việc bảo vệ quyền con người và thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Hà Giang (Giai đoạn 2018-2022). Chương 3: Hoàn thiện một số quy phạm về tội phạm và vấn đề nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự Việt Nam theo định hướng tăng cường bảo vệ các quyền con người. 7 Chƣơng 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƢỜI BẰNG CHẾ ĐỊNH LỚN VỀ TỘI PHẠM TRONG PHẦN CHUNG LUẬT HÌNH SỰ 1.
Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của bảo vệ quyền con ngƣời bằng chế định lớn về tội phạm trong Phần chung luật hình sự 1. Khái niệm bảo vệ quyền con ngƣời bằng chế định lớn về tội phạm trong Phần chung luật hình sự Khái niệm QCN, bảo vệ QCN Năm 1945, sau khi Liên Hợp Quốc được thành lập thì đã có rất nhiều văn kiện quốc tế ghi nhận về QCN. Các quy định này đã trở thành một hệ thống tiêu chuẩn pháp lý toàn cầu được các quốc gia trên thế giới cam kết tôn trọng và nội luật hóa vào pháp luật quốc gia để thực thi QCN trên thực tiễn, trong đó có Việt Nam. Trên thế giới, khái niệm QCN là một phạm trù có nhiều định nghĩa khác nhau, cách định nghĩa phụ thuộc vào sự nhìn nhận của mỗi cá nhân.
Tuy nhiên, một trong những định nghĩa về nhân quyền được sử dụng phổ biến là của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về QCN: “QCN là những bảo đảm pháp lý toàn cầu (universal legzl quarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions) mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép (entitlements) và tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con người [21, tr. Ở Việt Nam, khái niệm QCN đã được nhiều chuyên gia đề cập đến, với những quan điểm, phương diện không hoàn toàn giống nhau nhưng đều được nhắc đến với cách hiểu “QCN là những nhu cầu lợi ích tự nhiên vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế" [21, tr. Xét về mặt ngôn ngữ học, cụm từ "nhân quyền" (theo nghĩa Hán - Việt) chính là "QCN" (theo nghĩa thuần Việt) và trong tiếng 8 Anh đều được gọi chung là "human rights" [48, tr. Như vậy, theo Đại Từ điển tiếng Việt QCN và nhân quyền là hai từ đồng nghĩa [21, tr.
Cũng như ở các quốc gia khác trên thế giới, ở Việt Nam, QCN trước hết được ghi nhận và bảo đảm trong Hiến pháp. Bởi vậy, nghiên cứu chế định về QCN trong các bản Hiến pháp Việt Nam có thể khái quát được khá tổng thể về sự phát triển của tư tưởng và pháp luật về QCN. Hiến pháp năm 2013 đã có những sửa đổi, bổ sung đã kế thừa tinh thần về QCN của Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2001 và có những sự đột phá trong ghi nhận về QCN. Với những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm QCN là nhu cầu, lợi ích tự nhiên vốn có cho mỗi người được ghi nhận trong pháp luật quốc tế và được thừa nhận cũng như bảo đảm thực hiện, bảo vệ bởi pháp luật quốc gia.
Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, “bảo vệ” là "chống lại mọi sự xâm phạm để giữ cho luôn luôn được nguyên vẹn" [32, tr. Xuất phát từ nghĩa của thuật ngữ “bảo vệ” và những đặc trưng của QCN cho thấy nội dung cơ bản của bảo vệ QCN là chống lại mọi sự hủy hoại, xâm phạm để giữ gìn cho tất cả mọi người trong xã hội được an toàn và đầy đủ. Bảo vệ QCN hiện nay được thực hiện thông qua ba cơ chế đó là: Cơ chế quốc gia; Cơ chế khu vực và Cơ chế quốc tế. Trong đó, cơ chế quốc tế và cơ chế khu vực có tầm ảnh hưởng rất lớn đến cơ chế quốc gia, đặc biệt đối với các quốc gia tham gia công ước, điều ước quốc tế về bảo vệ QCN [21, tr.
Như vậy, nghĩa vụ bảo vệ QCN của mỗi nhà nước được coi là một nghĩa vụ chủ động vì để phòng ngừa, xử lý sự vi phạm QCN, mỗi quốc gia phải đưa ra những phương pháp, quy định các cơ chế phòng ngừa, xử lý vi phạm pháp luật, tội phạm xâm phạm QCN. Trong ba cơ chế bảo vệ QCN nêu trên, cơ chế quốc gia có vai trò quan trọng nhất, được chứng minh bằng lịch sử lâu đời và có hiệu quả cao trong thực tiễn. Bởi chính pháp luật của mỗi quốc gia, mỗi đất nước là cơ sở, tiền để để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ QCN thể hiện rõ nét bộ máy nhà nước, cơ chế thực hiện vận hành bộ máy. 9 Việc tiến hành nhiệm vụ bảo vệ QCN yêu cầu mỗi quốc gia cần xây dựng một hệ thống pháp luật thể hiện trên các phương diện sau: Một là, bảo vệ chủ thể và quyền của chủ thể được bảo vệ; Hai là, ngăn chặn và xử lý những hành vi vi phạm QCN; Ba là, khôi phục lại những quyền và lợi ích hợp pháp của người bị vi phạm.
Trên cơ sở khái niệm về QCN và những phân tích nêu trên, bảo vệ QCN có thể hiểu là toàn bộ các hoạt động phát hiện, ngăn ngừa và xử lý những hành vi vi phạm QCN nhằm khôi phục những quyền và lợi ích hợp pháp của người đã bị xâm hại, hạn chế hoặc tước bỏ bởi hành vi vi phạm pháp luật về QCN do các chủ thể có thẩm quyền thực hiện. Khái niệm chế định lớn về tội phạm Trong pháp luật hình sự có các chế định được coi là lớn như chế định Đạo luật hình sự (1) – Tội phạm (2) – Những trường hợp loại trừ tính tội phạm của hành vi (3) – Trách nhiệm hình sự (4) – Các biện pháp cưỡng chế hình sự (5) – Quyết định hình phạt ( 6) – Các biện pháp tha miễn ( 7) – Trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội ( 8) – Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại phạm tội (9). Trong đó, chế định lớn về Tội phạm ngoài việc trùng với tên gọi tại Chương III của Bộ luật hình sự, thì trong Chương III (Tội phạm) còn chứa đựng một loạt các chế định nhỏ như phân loại tội phạm, nhiều (đa) tội phạm, lỗi hình sự, các giai đoạn thực hiện tội phạm, tự ý nửa chừng chấm dứt tội phạm và đồng phạm. Như vậy, có thể đưa ra khái niệm như sau: "Chế định lớn về tội phạm trong khoa học luật hình sự là chế định mà chứa đựng trong lòng nó (thuộc nó) các chế định nhỏ hơn như phân loại tội phạm, nhiều (đa) tội phạm, lỗi hình sự, các giai đoạn thực hiện tội phạm, tự ý nửa chừng chấm dứt tội phạm và đồng phạm".
10 Khái niệm bảo vệ QCN bằng chế định lớn về tội phạm trong phần chung BLHS Bảo vệ QCN bằng pháp luật là sử dụng pháp luật như một công cụ (phương tiện) để ngăn chặn, xử lý các hành vi xâm hại QCN, nhằm bảo đảm QCN được tôn trọng. Chế định lớn về tội phạm trong Phần chung LHS là chế định quan trọng trong pháp luật hình sự mà Nhà nước sử dụng để bảo vệ QCN, do đó, hoạt động bảo vệ QCN bằng chế định lớn về tội phạm trong Phần chung LHS không nằm ngoài cách hiểu chung như vậy. Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm: “Bảo vệ quyền con người bằng chế định lớn về tội phạm trong Phần chung LHS là tập hợp các quy phạm pháp luật trong Phần chung của LHS do Nhà nước ban hành, bao gồm khái niệm và các chế định nhỏ có liên quan thuộc chế định lớn về tội phạm như phân loại tội phạm, nhiều (đa) tội phạm, lỗi hình sự, các giai đoạn thực hiện tội phạm, tự ý nửa chừng chấm dứt tội phạm và đồng phạm, nhằm phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm, bảo vệ các quyền và tự do của con người tránh khỏi sự xâm hại của những hành vi nguy hiểm cho xã hội được coi là tội phạm”. Các đặc điểm cơ bản của việc bảo vệ quyền con ngƣời bằng chế định lớn về tội phạm trong Phần chung luật hình sự Xuất phát từ khái niệm bảo vệ quyền con người bằng chế định lớn về tội phạm trong Phần chung LHS, có thể rút ra một số đặc điểm cơ bản như sau: Thứ nhất về đối tượng được bảo vệ bằng chế định lớn về tội phạm trong Phần chung LHS đó chính là QCN.
Hiến pháp là đạo luật cơ bản của quốc gia quy định những quyền cơ bản của con người được Nhà nước bảo vệ, tránh mọi hành vi xâm phạm. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các QCN, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” [13, tr. Cụ 11 thể hóa các quy phạm của Hiến pháp năm 2013, BLHS ghi nhận những biện pháp, hình phạt nghiêm khắc đối với các trường hợp xâm phạm các QCN. Trong đó, chế định lớn về tội phạm trong Phần chung LHS là một chế định quan trọng trong việc xây dựng và áp dụng các chế định khác trong LHS, là cơ sở pháp lý quan trọng trong thực thi LHS góp phần bảo vệ QCN.
Chính vì vậy, nội dung các QCN cần được bảo vệ thông qua chế định lớn về tội phạm trong Phần chung LHS chính là tổng hợp những QCN cần được bảo vệ bằng BLHS. Bao gồm quyền sống, tự do và an toàn cá nhân, quyền được bình đẳng trước pháp luật, được pháp luật bảo vệ khỏi bất kỳ sự phân biệt đối xử nào, quyền được suy đoán vô tội khi tội phạm chưa được chứng minh, quyền được hưởng sự nhân đạo trong luật hình sự, … Thứ hai, về phương thức bảo vệ, bảo vệ QCN bằng chế định lớn về tội phạm trong Phần chung LHS được thực hiện bằng việc ghi nhận đầy đủ về mặt lập pháp các quy định về tội phạm, bảo đảm các quy định phù hợp với quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về QCN trong luật hình sự, là cơ sở bảo đảm thực thi một cách chính xác trong thực tiễn áp dụng luật hình sự.