mở đầu cho công trình xây dựng khung pháp lý cụ thể và toàn diện về quy định “Làm giàu bất hợp pháp”. Do đó, những đặc điểm, ý nghĩa được rút ra từ những định nghĩa cốt lõi nhất của tội danh này sẽ được phân tích sâu hơn ở những phần tiếp theo. 17 Điều 65 Luật Công chức Trung Quốc năm 2018. Đặc điểm Tội làm giàu bất hợp pháp theo pháp luật Trung Quốc 2.
Cấu thành tội phạm trong pháp luật hình sự Trung Quốc Cấu thành tội phạm là mô hình pháp lý của một loại tội phạm cụ thể, là những dấu hiệu chung có tính chất đặc trưng cho từng loại tội phạm cụ thể được quy định trong pháp luật hình sự19. Dù khái niệm tội phạm trong pháp luật của các quốc gia trên thế giới có sự khác nhau thì chúng đều có một cấu trúc được hợp thành bởi những yếu tố nhất định. Những yếu tố này có ý nghĩa trong việc xác định tội phạm, nghĩa là một hành vi không thể bị coi là tội phạm nếu không thỏa cấu thành tội phạm của tội danh đó. Song, cấu trúc của một cấu thành tội phạm trong pháp luật hình sự của các quốc gia không phải lúc nào cũng hoàn toàn giống nhau, mà còn tùy thuộc vào chính sách hình sự của nhà nước đó.
Các yếu tố này trong một cấu thành tội phạm thường chính là những đặc điểm được rút ra từ việc các nhà làm luật nhìn nhận như thế nào là tội phạm, tội phạm là gì…có thể được biểu hiện qua khái niệm tội phạm trong quy định pháp luật hình sự. Ví dụ theo pháp luật Việt Nam, định nghĩa về tội phạm như sau: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự”20. Theo đó, tội phạm được hợp thành bởi bốn yếu tố cơ bản. Thứ nhất, mặt khách thể của tội phạm: là quan hệ xã hội được Luật Hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại, xét theo định nghĩa là độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân hay những lĩnh vực khác của trật tự xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của luật hình sự Việt Nam.
Thứ hai, mặt khách quan: những biểu hiện bên ngoài của tội phạm bao gồm hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định cụ thể trong BLHS. Thứ ba, mặt chủ thể: thể hiện năng lực trách nhiệm sự. Thứ tư, mặt chủ quan: hành vi được thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý. Đó là những dấu hiệu bắt buộc luôn có mặt trong cấu thành tội phạm ở các loại tội phạm dù khác nhau theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam.
Điều này không chỉ thể hiện trong quy định khái niệm tội phạm 19 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam - Phần chung, NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr. 20 Khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015. 21 tại Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015 của Việt Nam mà còn trong các quy định khác tại Phần Chung BLHS và cả Phần Các tội phạm tại luật này. Có thể thấy, Nhà nước quy định tội phạm trong Luật Hình sự bằng cách mô tả những dấu hiệu cấu thành tội phạm và quy định chúng trong Luật Hình sự.
Điều này cũng xuất phát từ nguyên tắc pháp chế: “Nullum crimen, nulla poena sine lege” (nghĩa là không có tội, không có hình phạt nếu không có luật) đòi hỏi các dấu hiệu của cấu thành tội phạm phải do luật định21. Nguyên tắc này cũng được đề ra trong chính Luật Hình sự năm 1997 (sửa đổi, bổ sung các năm 1999, 2011) của Trung Quốc như sau: “Đối với những hành vi mà pháp luật quy định rõ ràng là hành vi phạm tội thì người phạm tội sẽ bị kết án và bị trừng phạt theo quy định của pháp luật; nếu không, họ sẽ không bị kết án hoặc trừng phạt”22. Như vậy, để xác định đầy đủ các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cần phải căn cứ vào quy định trong pháp luật hình sự của quốc gia đó. Và vì mục đích nghiên cứu của công trình, nhóm tác giả sẽ tìm hiểu các dấu hiệu cấu thành tội phạm của pháp luật Hình sự Trung Quốc, từ đó phân tích các đặc điểm của những yếu tố này.
Tại Điều 13 BLHS Trung Quốc năm 1997, sửa đổi bổ sung các năm 1999, 2011 quy định tội phạm như sau:“Tội phạm là hành vi gây nguy hại đến chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh Nhà nước, chia rẽ Nhà nước, lật đổ quyền lực Nhà nước dân chủ nhân dân độc tài và lật đổ hệ thống xã hội chủ nghĩa, phá hoại trật tự xã hội và kinh tế, xâm phạm tài sản của Nhà nước, tài sản của tập thể nhân dân lao động, hoặc tài sản thuộc sở hữu riêng của công dân, xâm phạm quyền công dân của người đó, của họ dân chủ hoặc các quyền khác, và bất kỳ hành động nào khác gây nguy hiểm cho xã hội và phải tuân theo trừng phạt theo pháp luật. Tuy nhiên, nếu các trường hợp rõ ràng là nhỏ và gây thiệt hại không nghiêm trọng thì hành vi đó không bị coi là tội phạm.” Định nghĩa tội phạm trong pháp luật của các quốc gia trên thế giới được thể hiện bởi quan điểm khác nhau, nhưng dù vậy các quốc gia đều thống nhất tội phạm là một hiện tượng tiêu cực, đi ngược lại những đòi hỏi của xã hội23. Do đó, trong chính sách hình sự của mỗi quốc gia đều có những định hình về khách thể - những quan hệ xã hội được pháp luật hình sự của nhà nước bảo vệ trước những hành vi gây nguy hiểm đến xã hội này. Theo pháp luật hình sự Trung Quốc đó là những vấn đề liên quan đến 21 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam - Phần chung, NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr.
22 Điều 3 Bộ luật Hình sự Trung Quốc năm 1997, bổ sung sửa đổi năm 1999, 2011. 23 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2019), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam - Phần chung, NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr. 22 “…chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh Nhà nước, chia rẽ Nhà nước, lật đổ quyền lực Nhà nước dân chủ nhân dân độc tài và lật đổ hệ thống xã hội chủ nghĩa, phá hoại trật tự xã hội và kinh tế, xâm phạm tài sản của Nhà nước, tài sản của tập thể nhân dân lao động, hoặc tài sản thuộc sở hữu riêng của công dân, xâm phạm quyền công dân của người đó, của họ dân chủ hoặc các quyền khác, và bất kỳ hành động nào khác gây nguy hiểm cho xã hội”. Ngoài ra yếu tố khách thể hay chính là mục đích hướng sử dụng các hình phạt hình sự để đấu tranh với hành vi phạm tội để bảo vệ các quan hệ xã hội, còn được quy định cụ thể hơn tại Điều 2 Bộ luật này24.
Theo pháp luật Hình sự Trung Quốc, tội phạm được định nghĩa là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, điều này thể hiện mặt khách quan tương tự với pháp luật Việt Nam. Như vậy, định nghĩa về tội phạm theo BLHS Trung Quốc thể hiện hai dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm trong pháp luật hình sự nước này cũng bao gồm mặt khách thể và mặt khách quan tương tự như pháp luật Việt Nam. Song, xem xét các quy định khác tại Phần chung trong BLHS Trung Quốc, nhóm tác giả nhận thấy trong pháp luật hình sự nước này, cấu thành tội phạm cũng bao gồm mặt chủ quan và mặt chủ thể. Cụ thể, mặt chủ quan thể hiện yếu tố lỗi của hành vi phạm tội được quy định tại Điều 14, Điều 15 Bộ luật này25.
Mặt chủ thể thể hiện năng lực chịu trách nhiệm hình sự và độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 17, Điều 18 B luật này26. 24 Điều 2 Bộ luật Hình sự Trung Quốc: “Mục đích của Luật Hình sự Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là sử dụng hình sự hình phạt để đấu tranh với mọi hành vi phạm tội nhằm bảo vệ an ninh của Nhà nước, để bảo vệ quyền lực Nhà nước của chế độ chuyên chính dân chủ nhân dân và hệ thống xã hội chủ nghĩa, để bảo vệ tài sản của Nhà nước, tài sản của tập thể nhân dân lao động và tài sản thuộc sở hữu tư nhân của công dân, để bảo vệ quyền công dân của người đó và của họ dân chủ và các quyền khác, để duy trì trật tự xã hội và kinh tế, và để đảm bảo công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa tiến triển thuận lợi.” 25 Điều 14 Bộ luật Hình sự Trung Quốc: “Tội cố ý là hành vi do người biết rõ rằng hành động của anh ta sẽ kéo theo những hậu quả có hại cho xã hội nhưng ai mong muốn hoặc cho phép như vậy hậu quả xảy ra thì cấu thành tội phạm. Trách nhiệm hình sự phải chịu đối với tội cố ý.” Điều 15 Bộ luật Hình sự Trung Quốc: “Tội do cẩu thả là hành vi do một người thực hiện mà lẽ ra phải có thấy trước hành vi của mình có thể gây hậu quả nguy hại cho xã hội mà không thực hiện làm như vậy do sơ suất của anh ta hoặc, đã thấy trước hậu quả, sẵn sàng tin rằng họ có thể tránh được, để hậu quả xảy ra. Chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội vô ý khi pháp luật có quy định.” 26 Điều 17 Bộ luật Hình sự Trung Quốc: “Người đủ 16 tuổi phạm tội thì phải chịu hình sự trách nhiệm.
Nếu người đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 16 tuổi phạm tội cố ý giết người, cố ý làm tổn thương người khác dẫn đến thương tật nghiêm trọng hoặc tử vong người, hoặc phạm tội hiếp dâm, cướp của, buôn bán ma túy, đốt phá, gây nổ hoặc đầu độc, thì anh ta phải chịu trách nhiệm hình sự.