Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu. - Chương 2: Những vấn đề lý luận về trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. - Chương 3: Quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Bình Dương. - Chương 4: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự về trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật tại tỉnh Bình Dương.
8 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu ở nƣớc ngoài Thứ nhất, nhóm các công trình nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về TNHS và hình phạt, có thể kể đến như: - Các công trình nghiên cứu về khái niệm, bản chất của TNHS: Cuốn sách “Criminal Responsibility” (tạm dịch: TNHS) của tác giả Victor Tadros, năm 2007, Nhà xuất bản (Nxb) Oxford University Press. Cuốn sách này xem xét khái niệm, bản chất và phạm vi của TNHS dưới góc độ vai trò thể chế và chính trị của nó. Tadros bắt đầu bằng việc trình bày các nền tảng, cả đạo đức và chính trị của TNHS, đồng thời, phân tích một số học thuyết trọng tâm về TNHS.
Cụ thể, cuốn sách đưa ra khái niệm và xem xét bản chất của TNHS bằng cách áp dụng một quan niệm mới đặc biệt về quyền tự do ý chí. Dựa trên việc xem xét quyền tự do ý chí này, Tadros sau đó khám phá các điều kiện trọng tâm của TNHS. Ông đưa ra sự xem xét một cách có hệ thống về mối quan hệ giữa TNHS và lý thuyết của sự tự do, cho thấy các điều kiện của TNHS được quy định và hạn chế như thế nào trong bối cảnh thể chế của luật hình sự. Đồng thời, cuốn sách cũng phân tích một số học thuyết trọng tâm về TNHS và giải thích về các cách thức, các điều kiện khác nhau mà một người cần phải đáp ứng được để có thể được miễn TNHS hoặc không phải chịu TNHS theo quy định của pháp luật [97].
Cuốn sách chuyên khảo “In search of criminal responsibility: Ideas, interests and institutions” (tạm dịch: Tìm kiếm TNHS: Ý tưởng, lợi ích và thể chế) của tác giả Nicola Lacey, năm 2016, Nxb Oxford University Press. Lacey cho rằng, TNHS thường được coi là hình thức hoặc cấu trúc của luật hình sự và là khái niệm nền tảng của luật hình sự. TNHS thường được xem xét nhiều nhất bởi các học giả theo truyền thống học thuật pháp lý, triết học về lý thuyết luật hình sự. Theo truyền thống này, TNHS có xu hướng được tiếp cận như một vấn đề trừu tượng, với các quy tắc về trách nhiệm được giải thích gắn liền với các chuẩn mực đạo đức với việc trả lời câu hỏi trọng tâm mang tính định hướng “ai phải chịu trách nhiệm theo luật hình sự”.
Tìm kiếm TNHS thúc đẩy việc phân tích khái niệm TNHS ở các khía cạnh khác nhau. Đầu tiên, Lacey thúc đẩy các học giả suy ngẫm về những giả định tiềm ẩn đằng sau việc nghiên cứu TNHS. Tiến hành theo hướng quan trọng hơn so 9 với công trình nghiên cứu triết học - pháp lý về TNHS, phân tích của Lacey tiến hành trên cơ sở cho rằng các học giả luật hình sự phải vượt ra ngoài sự tập trung vào TNHS “là gì” và đặt câu hỏi đặt ra TNHS là “để làm gì”. Lacey nhìn xa hơn các quan niệm về TNHS và bản chất của TNHS liên quan đến việc đánh giá và xét xử các cá nhân theo quy trình tố tụng hình sự truyền thống.
Điều này đặt ra các câu hỏi về TNHS khác nhau, chẳng hạn như “các cá nhân phải chịu TNHS theo những cách nào” và gồm những hình thức nào. Theo Lacey, TNHS là vấn đề trọng tâm của hệ thống pháp luật hình sự. Lacey lập luận rằng TNHS thường phải được hiểu trong bối cảnh hình sự hóa. TNHS là một khái niệm tích cực được hình thành bởi quyền lực Nhà nước và quyền, lợi ích của các chủ thể có liên quan.
Lacey giải thích lập luận của mình về chức năng điều phối và hợp pháp hóa của luật hình sự trong khuôn khổ ý tưởng, lợi ích và thể chế. Đối với Lacey, chính những ý tưởng, lợi ích và thể chế đã hình thành nên khái niệm và vai trò của TNHS. Liên quan đến các ý tưởng, Lacey lập luận rằng có bốn khái niệm hoặc nguyên tắc chính tạo thành nền tảng cho cách thức mà các cá nhân phải chịu TNHS, đó là: năng lực của chủ thể (đại diện cho mối quan tâm với cơ quan, sự lựa chọn và quyền tự chủ của cá nhân), hậu quả (liên quan đến những tổn hại do tội phạm gây ra cho xã hội), phẩm chất (đòi hỏi một sự đánh giá hoặc ước tính về phẩm chất của một người) và những rủi ro [88]. Cuốn sách “Crimes and Punishment: Cases, Materials, and Readings in Criminal Law” (tạm dịch: Tội phạm và hình phạt: Các vụ án, tài liệu và bài đọc trong Luật hình sự) của tác giả Martin R.
Gardner và Richard G. Singer, tái bản lần thứ 4, năm 2006, Nxb Lexis Nexis. Nội dung cuốn sách tập trung nghiên cứu các nguyên tắc cơ bản của luật hình sự, TNHS và những vấn đề cơ bản về hình phạt, hành vi tái phạm tội. Cuốn sách phản ánh quan điểm của các tác giả cho rằng mục đích của luật hình sự và TNHS là phản ánh các chuẩn mực đạo đức của xã hội, trừng phạt những người có lỗi và nhận thức được rằng họ đã vi phạm các chuẩn mực đạo đức này.
Cuốn sách không nghiên cứu về tất cả các tội phạm cụ thể mà chỉ tập trung vào phân tích một số tội phạm để làm sáng tỏ những nội dung nền tảng và nguyên tắc cơ bản của luật hình sự như tội giết người, các tội xâm phạm tình dục [87]. - Các công trình nghiên cứu về các lý thuyết của hình phạt, các loại hình phạt: Bài viết “Role of Theories of punishment in the policy of sentencing” (tạm dịch: Vai trò của các học thuyết về hình phạt đối với chính sách kết án) của tác giả 10 Areti Krishna Kumari, năm 2007, đăng trên tạp chí Electronic Journal. Trong bài viết, tác giả phân tích các lý thuyết khác nhau về hình phạt như học thuyết trừng trị, học thuyết phòng ngừa, học thuyết ngăn ngừa, học thuyết cải tạo làm cơ sở để xác định TNHS đối với người phạm tội. Areti coi hình phạt là một phần thiết yếu của luật hình sự.
Chỉ thông qua hình phạt thì việc tuân thủ pháp luật mới có thể được đảm bảo. Hình phạt được coi là hậu quả trực tiếp của việc thực hiện hành vi phạm tội. Thuật ngữ hình phạt được định nghĩa là sự đau đớn, khổ đau, mất mát, giam cầm hoặc các hình khác tương tự gây ra cho một người vì hành vi phạm tội mà người phạm tội phải chịu [73]. Tài liệu “Hanbook of Basic Principles and Promising Practices on Alternatives to Imprisonment” (tạm dịch: Sổ tay về Các nguyên tắc cơ bản và yêu cầu thực tiễn của các biện pháp thay thế hình phạt tù) của UNODC, năm 2007 là tài liệu chính thức của LHQ nhằm giải thích và hướng dẫn Các quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của LHQ về các biện pháp không giam giữ năm 1990 (Quy tắc Tokyo).
Tài liệu đã đề cập đến một số lý do của việc sử dụng các biện pháp, các hình phạt thay thế cho hình phạt tù khi xác định TNHS đối với người phạm tội. Theo đó, cuốn sổ tay giới thiệu những nguyên tắc cơ bản để hiểu các phương án thay thế hình phạt tù cũng như mô tả các thực tiễn đầy hứa hẹn được áp dụng ở một số quốc gia trên thế giới. Tài liệu cung cấp thông tin về các lựa chọn thay thế cho việc áp dụng hình phạt tù ở mọi giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự; những cân nhắc quan trọng đối với việc thực hiện các giải pháp thay thế. Cuốn sổ tay này được viết cho các quan chức tư pháp hình sự, các tổ chức phi chính phủ và thành viên cộng đồng đang nỗ lực giảm bớt sự phụ thuộc quá mức vào hình phạt tù; cải thiện việc thực thi công lý, bao gồm cả việc phục hồi và tái hòa nhập cộng đồng; tích hợp các tiêu chuẩn và chuẩn mực quốc tế dựa trên nhân quyền vào các chính sách và thực tiễn ở địa phương.
Cuốn sổ tay tập trung một cách có hệ thống vào việc thực hiện các lựa chọn thay thế ở các giai đoạn của hệ thống tư pháp hình sự, gồm: trước khi xét xử; giai đoạn tuyên án và trả tự do sớm cho tù nhân bị kết án. Cuốn tài liệu cũng nhấn mạnh các chiến lược nhằm giảm bớt hình phạt tù đối với bốn nhóm đối tượng chính mà việc giam giữ có thể gây ra tác động đặc biệt nguy hại gồm trẻ em, người nghiện 11 ma túy, người bị bệnh tâm thần và phụ nữ, mà đặc biệt là trẻ em [96]. Thứ hai, nhóm các công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến vấn đề TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. - Các công trình nghiên cứu về hệ thống tư pháp hình sự NCTN và vấn đề TNHS đối với NCTN phạm tội nói chung: Cuốn sách “Juvenile Justice: An Introduction” (tạm dịch: Tư pháp NCTN: Giới thiệu) của hai tác giả John T.
Whitehead và Steven P. Lab, năm 2013, Nxb Anderson đã phân tích về các khía cạnh của hệ thống tư pháp NCTN. Cuốn sách đề cập đến lịch sử và sự phát triển của hệ thống tư pháp dành cho NCTN cũng như các vấn đề đặc biệt liên quan đến trẻ vị thành niên, bao gồm sự tiếp xúc với cảnh sát, quy trình tòa án, thủ tục tố tụng tư pháp, các biện pháp và chương trình xử lý chuyển hướng (XLCH), các biện pháp xử lý phi hình sự cũng như các biện pháp can thiệp ngoài cộng đồng. Cuốn sách này cũng xem xét các vấn đề cụ thể trong lĩnh vực tư pháp dành cho NCTN như các băng nhóm tội phạm, không áp dụng hình phạt tử hình và tù chung thân không ân xá với NCTN.
Cuốn sách đưa ra những giải pháp để can thiệp và điều trị hiệu quả đối với NCTN phạm tội. Cuối cùng, cuốn sách kết thúc với cái nhìn viễn cảnh về khả năng bãi bỏ tòa án dành cho NCTN trong tương lai để tăng cường việc bảo đảm quyền, lợi ích tốt nhất cho NCTN phạm tội. Trong công trình nghiên cứu “Justice for children: Detention as a last resort. Innovative initiatives in the East Asia and Pacific region” (tạm dịch: Tư pháp trẻ em: Giam giữ là biện pháp cuối cùng.