Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội từ thực tiễn tỉnh Bình Dương" do nghiên cứu sinh Trần Minh Thảo thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Đinh Thị Mai, tại Học viện Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (bảo vệ năm 2024), thuộc ngành Luật Hình sự và tố tụng hình sự (mã số 9 38 01 04).

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả xác định đề tài xuất phát từ bốn phương diện trọng yếu:

  • Phương diện chính trị: Luận án nhằm quán triệt đường lối, chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, thể hiện qua Chỉ thị số 20-CT/TW ngày 5/11/2012 của Bộ Chính trị, các Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, IX, X, XI, XII, XIII của Đảng, Nghị quyết số 48/NQ-TW về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, Nghị quyết số 49/NQ-TW về chiến lược cải cách tư pháp. Đồng thời, nghiên cứu đáp ứng nghĩa vụ nội luật hóa các chuẩn mực quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đặc biệt là Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989 (CRC).
  • Phương diện lý luận: Khoa học luật hình sự Việt Nam còn tồn tại nhiều quan điểm chưa thống nhất về khái niệm, bản chất, nội dung, giới hạn, cơ sở và các yếu tố bảo đảm hiệu quả áp dụng trách nhiệm hình sự (TNHS) đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
  • Phương diện pháp lý: Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) bộc lộ nhiều hạn chế như: khoản 4 và khoản 6 Điều 91 chưa làm rõ thứ tự ưu tiên các biện pháp xử lý; chưa có quy định riêng về hình phạt cảnh cáo đối với người dưới 18 tuổi; không áp dụng hình phạt tiền đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi kể cả khi có thu nhập hoặc tài sản riêng; chưa quy định thể thức thi hành hình phạt tiền; thiếu quy định mức tối thiểu của hình phạt tiền, cải tạo không giam giữ (CTKGG), hình phạt tù có thời hạn (HPTCTH); khoản 3 Điều 102 về quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội chưa đạt (PTCĐ) chưa có văn bản hướng dẫn; khoản 2 Điều 103 dùng cụm từ "sau khi đủ 16 tuổi" chưa rõ ràng; điểm a khoản 3 Điều 103 chưa quy định rõ nhóm tuổi và mức phạt cao nhất; Điều 104 về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án còn quy định chung chung; thiếu quy định riêng về quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt; HPTCTH vẫn chiếm tỷ lệ áp dụng chủ yếu.
  • Phương diện thực tiễn: Tỉnh Bình Dương nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, sở hữu 28 khu và cụm công nghiệp tập trung với hơn 8.200 doanh nghiệp hoạt động, tỷ suất di cư thuần dương năm 2019 đạt 200,4% (hơn 489.000 người nhập cư). Quá trình đô thị hóa và phân hóa giàu nghèo làm phức tạp tình hình tội phạm người dưới 18 tuổi. Giai đoạn 2014–2023, Tòa án nhân dân (TAND) tỉnh Bình Dương đã xét xử sơ thẩm 661 vụ án với 851 bị cáo là người dưới 18 tuổi. Quá trình áp dụng pháp luật còn tồn tại sai sót về căn cứ pháp lý, xác định dấu hiệu định tội, căn cứ lượng hình, có xu hướng lạm dụng HPTCTH và xem nhẹ hình phạt không giam giữ.

Mục đích nghiên cứu của luận án là xây dựng khung lý luận về TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật tại tỉnh Bình Dương.

Luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Phân tích, đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu về TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội ở trong và ngoài nước; chỉ ra nội dung kế thừa và khoảng trống nghiên cứu.
  2. Phân tích những vấn đề lý luận về TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
  3. Phân tích thực trạng quy định của pháp luật hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Bình Dương; làm rõ kết quả đạt được, hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân.
  4. Đưa ra định hướng, kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật tại tỉnh Bình Dương.

Luận án xây dựng 4 giả thuyết nghiên cứu:

  • Giả thuyết 1: Khoa học luật hình sự Việt Nam chưa xây dựng được nền tảng lý luận thống nhất và đầy đủ về TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
  • Giả thuyết 2: Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội còn nhiều hạn chế, bất cập cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện.
  • Giả thuyết 3: Việc áp dụng pháp luật về TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tại tỉnh Bình Dương còn nhiều hạn chế, vướng mắc cần được khắc phục.
  • Giả thuyết 4: Để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật tại tỉnh Bình Dương, cần kết hợp đồng bộ các giải pháp hoàn thiện pháp luật và giải pháp thực thi.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận về TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội; các quy định của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); thực tiễn áp dụng pháp luật tại các TAND trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào nội dung và hình thức của TNHS (hình phạt, biện pháp tư pháp, án tích) theo BLHS năm 2015. Luận án không đi sâu nghiên cứu các biện pháp xử lý ngoài luật hình sự và các thủ tục tố tụng tiền xét xử (khởi tố, điều tra, truy tố).
  • Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Bình Dương (hệ thống TAND tỉnh Bình Dương).
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát số liệu thống kê và các bản án điển hình giai đoạn 2014–2023.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu của luận án được tác giả phân định thành hai nhóm công trình chính:

Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

  • Về lý luận chung về TNHS và hình phạt: Tác giả điểm lại công trình của Victor Tadros (2007, Criminal Responsibility, Nxb Oxford University Press) nghiên cứu quyền tự do ý chí và điều kiện miễn/không chịu TNHS; Nicola Lacey (2016, In search of criminal responsibility: Ideas, interests and institutions, Nxb Oxford University Press) phân tích 4 nguyên tắc chịu TNHS gồm năng lực, hậu quả, phẩm chất và rủi ro; Martin R. Gardner và Richard G. Singer (2006, Crimes and Punishment: Cases, Materials, and Readings in Criminal Law, Nxb Lexis Nexis) tiếp cận TNHS từ chuẩn mực đạo đức xã hội; Areti Krishna Kumari (2007, Role of Theories of punishment in the policy of sentencing) nghiên cứu các học thuyết trừng trị, phòng ngừa, ngăn ngừa, cải tạo; Sổ tay của UNODC (2007, Handbook of Basic Principles and Promising Practices on Alternatives to Imprisonment) hướng dẫn Quy tắc Tokyo 1990 về các biện pháp thay thế hình phạt tù.
  • Về hệ thống tư pháp người chưa thành niên (NCTN) và TNHS đối với NCTN: Công trình của John T. Whitehead và Steven P. Lab (2013, Juvenile Justice: An Introduction); Báo cáo của Unicef EAPRO (2003, Justice for children: Detention as a last resort) khảo sát tư pháp NCTN tại Thái Lan, Campuchia, Philippines, Palau, New Zealand; Ido Weijers và Antony Duff (2002, Punishing Juveniles: Principle and Critique) nghiên cứu mục tiêu phục hồi và giáo dục; Larry J. Siegel và Brandon C. Welsh (2014, 2016); Donald J. Shoemaker (2017, Juvenile Delinquency); James Burfeind và Dawn Jeglum Bartusch (2016, Juvenile Delinquency: An integrated approach); Robert Agnew và Timothy Brezina (2017, Juvenile Delinquency: Causes and Control); Franklin E. Jimring (2005, American Juvenile Justice).
  • Về hình phạt áp dụng đối với NCTN phạm tội: Barry Goldson, Chris Cunneen, Sophie Russell, David Brown, Eileen Baldry, Melanie Schwartz, Damon Briggs (2020, Youth Justice and Penality in Comparative Context); Megan C. Kurlychek và Brian D. Johnson (2004, The juvenile penalty: A comparison of juvenile and young adult sentencing outcomes in criminal court); Jola Bode (2019, Juvenile Punishment System in View of the Need for Education and Reintegration) khảo sát BLHS Albania; Scott H. Decker và Nerea Marteache (2017, International Handbook of Juvenile Justice) khảo cứu kinh nghiệm tư pháp NCTN tại 34 quốc gia.

Tình hình nghiên cứu ở trong nước

  • Về lý luận chung về TNHS: Các sách chuyên khảo và giáo trình của GS. Nguyễn Ngọc Hòa (Chủ biên, 2022, Trách nhiệm hình sự, hình phạt và các biện pháp hình sự khác); PGS. Trịnh Tiến Việt (2019, 2022, Trách nhiệm hình sự và loại trừ trách nhiệm hình sự); TS. Trần Thị Quang Vinh (Chủ biên, 2019, Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam – Phần Chung); GS. Đào Trí Úc (Chủ biên, 1993, Mô hình lý luận về Bộ luật Hình sự Việt Nam); Đỗ Ngọc Quang (1997); bài viết của Hồ Sỹ Sơn (2010); công trình của GS. Lê Văn Cảm, Trịnh Thị Yến và Phan Thị Phương Hiền.
  • Về hình phạt và quyết định hình phạt: Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội (2016), Trường Đại học Luật TP.HCM (2019), Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội (2007), GS. Võ Khánh Vinh (Chủ biên, 2005); các luận án tiến sĩ của Dương Tuyết Miên (2003), Nguyễn Sơn (2002), Nguyễn Thị Ánh Hồng (2018); bài viết trên các tạp chí chuyên ngành của Nguyễn Văn Khánh (2018), Dương Thanh (2019), Hoàng Quảng Lực (2019), Lê Khắc Tuấn (2019).
  • Về chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội: Luận án tiến sĩ của Hoàng Minh Đức (2016, Chính sách hình sự đối với NCTN phạm tội ở Việt Nam hiện nay); bài viết của Nguyễn Thị Phương Hoa (2016), Trương Quang Vinh (2016), Nguyễn Quốc Việt (2017), Nguyễn Mai Bộ và Hoàng Ngọc Anh (2020), Vũ Thị Thu Quyên (2010).
  • Về nguyên tắc xử lý và xử lý chuyển hướng (XLCH): Luận án tiến sĩ của Mai Thị Thủy (2022, XLCH đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong Luật hình sự Việt Nam) cùng các bài viết (2016, 2017, 2023); công trình của Nguyễn Thị Phương Hoa và Phan Anh Tuấn (Đồng chủ biên, 2017); Đỗ Thị Phượng (Chủ biên, 2020); tài liệu của Vụ Pháp chế – Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2012); bài viết của Hoàng Minh Đức và Nguyễn Phan Trung Anh (2016), Cao Thị Oanh (2019), Phan Anh Tuấn (2015).
  • Về quy định hình phạt cụ thể đối với người dưới 18 tuổi: Bài viết của Lương Ngọc Trâm (2015), Nguyễn Nông (2015), Hoàng Thị Kim Anh (2016), Nguyễn Hoàng Thịnh (2019), Đặng Văn Thực (2021).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tổng quan tài liệu cho thấy chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội kết hợp đồng thời ba phương diện: lý luận, luật thực định và thực tiễn xét xử tại một địa bàn cấp tỉnh cụ thể là tỉnh Bình Dương ở cấp độ luận án tiến sĩ. Các kiến nghị trước đây chủ yếu dừng lại ở các giải pháp đơn lẻ, thiếu tính đồng bộ trong việc xây dựng mô hình pháp lý bảo vệ người dưới 18 tuổi.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khái niệm cốt lõi

  • Khái niệm TNHS: Luận án xây dựng định nghĩa: "Trách nhiệm hình sự là dạng trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất, là hậu quả pháp lý bất lợi mà người phạm tội phải chịu trước Nhà nước do việc người đó thực hiện tội phạm và là kết quả của việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự, được thể hiện ở bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật, hình phạt, biện pháp tư pháp và án tích".
  • Bản chất của TNHS: Là sự lên án chính thức của Nhà nước đối với người có lỗi thực hiện tội phạm thông qua trình tự tố tụng; nội dung cơ bản là sự tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội. Tác giả phân định bản chất TNHS (gắn với truy cứu TNHS) với sự tác động chung của pháp luật hình sự (mang tính giáo dục, phòng ngừa, không truy cứu TNHS).
  • Giới hạn của TNHS: Phát sinh từ thời điểm hành vi phạm tội được thực hiện trên thực tế (Điều 2 BLHS năm 2015), được chính thức thực hiện khi bản án kết tội có hiệu lực pháp luật (Điều 31 Hiến pháp năm 2013, Điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) và chấm dứt khi hết thời hiệu truy cứu, chấp hành xong hình phạt hoặc được xóa án tích.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp luận: Dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh, các chủ trương của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
  • Các phương pháp cụ thể:
    • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt trong toàn bộ luận án nhằm mổ xẻ các khái niệm, quy định pháp luật và đánh giá thực tiễn.
    • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu các quan điểm học thuật, so sánh quy định pháp luật hình sự qua các thời kỳ lịch sử và đối chiếu với Dự thảo 2 Luật Tư pháp người chưa thành niên (ngày 19/3/2024).
    • Phương pháp nghiên cứu lịch sử: Khảo cứu quá trình hình thành, phát triển của chế định TNHS đối với người dưới 18 tuổi trong lịch sử lập pháp Việt Nam.
    • Phương pháp thống kê: Tổng hợp, phân loại số liệu xét xử sơ thẩm đối với bị cáo là người dưới 18 tuổi tại TAND tỉnh Bình Dương giai đoạn 2014–2023.
    • Phương pháp nghiên cứu án điển hình: Phân tích các vụ án cụ thể tại Tòa án tỉnh Bình Dương để chỉ ra những sai sót trong định tội và lượng hình.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Văn bản pháp lý quốc tế: Công ước CRC năm 1989, Quy tắc Tokyo năm 1990.
  • Văn bản pháp luật Việt Nam: Hiến pháp năm 2013, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), BLTTHS năm 2015, Dự thảo Luật Tư pháp người chưa thành niên.
  • Nguồn dữ liệu thực chứng: Hồ sơ bản án, báo cáo thống kê công tác xét xử sơ thẩm của hệ thống TAND tỉnh Bình Dương từ năm 2014 đến năm 2023; số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 của Cục Thống kê.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về TNHS, hình phạt và tư pháp NCTN. Tác giả chỉ rõ:

  • Các nghiên cứu quốc tế đã xây dựng nền tảng lý luận về tư pháp phục hồi, các biện pháp thay thế giam giữ và nguyên tắc lấy lợi ích tốt nhất của trẻ em làm trọng tâm.
  • Các công trình trong nước đã phân tích nhiều khía cạnh của BLHS năm 2015 nhưng chưa hình thành hệ thống lý luận hoàn chỉnh về TNHS đối với người dưới 18 tuổi và chưa có công trình nào khảo sát thực tiễn chuyên sâu tại tỉnh Bình Dương.
  • Chương này xác lập hệ thống 4 câu hỏi nghiên cứu và 4 giả thuyết nghiên cứu làm cơ sở triển khai các chương tiếp theo.

Chương 2: Những vấn đề lý luận về trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

Chương 2 làm rõ các vấn đề lý luận nền tảng:

  • Phân tích 5 quan điểm học thuật về TNHS, bác bỏ quan điểm đồng nhất TNHS với hình phạt và quan điểm về "TNHS tích cực".
  • Xác định TNHS đối với người dưới 18 tuổi mang tính chất đặc thù: phải phản ánh nguyên tắc nhân đạo, ưu tiên giáo dục, phục hồi và giảm thiểu tối đa việc áp dụng hình phạt tù.
  • Phân định các hình thức thực hiện TNHS (hình phạt, biện pháp tư pháp, án tích) với các biện pháp giám sát, giáo dục tại Mục 3 Chương XII BLHS khi người dưới 18 tuổi được miễn TNHS.
  • Khẳng định cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và 4 nhóm yếu tố bảo đảm hiệu quả áp dụng pháp luật (chất lượng văn bản pháp luật, trình độ chuyên môn của người tiến hành tố tụng, cơ sở vật chất - kỹ thuật, sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội).

Chương 3: Quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Bình Dương

Chương 3 phân tích quy định thực định và khảo sát thực tiễn tại Bình Dương:

  • Đánh giá các quy định tại Chương XII BLHS năm 2015: chỉ ra các bất cập về thứ tự ưu tiên xử lý (khoản 4, 6 Điều 91), thiếu hình phạt cảnh cáo riêng, giới hạn áp dụng hình phạt tiền, thiếu quy định mức sàn của một số loại hình phạt, vướng mắc trong tổng hợp hình phạt nhiều bản án (Điều 104).
  • Phân tích số liệu thực tiễn xét xử sơ thẩm tại TAND tỉnh Bình Dương giai đoạn 2014–2023:
Giai đoạn Số vụ án xét xử sơ thẩm Số bị cáo là người dưới 18 tuổi Đặc điểm cơ cấu hình phạt áp dụng
2014 – 2017 Khảo sát theo Bảng 3.1 Khảo sát theo Bảng 3.1 HPTCTH chiếm tỷ lệ áp dụng chủ yếu
2018 – 2023 Khảo sát theo Bảng 3.2 Khảo sát theo Bảng 3.2 Tiếp tục chiếm tỷ lệ áp dụng cao nhất
Toàn kỳ (2014 – 2023) 661 vụ 851 bị cáo HPTCTH chiếm tỷ lệ áp dụng vượt trội so với các hình phạt khác
  • Luận án đánh giá thực tiễn: TAND các cấp tỉnh Bình Dương đã xét xử đúng thẩm quyền, tuy nhiên vẫn tồn tại hạn chế như áp dụng sai căn cứ pháp lý, chưa đánh giá đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có xu hướng tuyệt đối hóa HPTCTH, ít áp dụng hình phạt cảnh cáo, phạt tiền hoặc biện pháp cải tạo không giam giữ.

Chương 4: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự về trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật tại tỉnh Bình Dương

Chương 4 đưa ra hai nhóm giải pháp:

  • Kiến nghị hoàn thiện pháp luật: Sửa đổi, bổ sung các điều luật tại Chương XII BLHS năm 2015 (khoản 4, 6 Điều 91; Điều 98, 99, 100, 101, 102, 103, 104); bổ sung quy định áp dụng hình phạt tiền đối với người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi khi có tài sản riêng; quy định rõ mức phạt tối thiểu đối với người dưới 18 tuổi; hoàn thiện quy định tổng hợp hình phạt nhiều bản án; đồng bộ hóa các kiến nghị với Dự thảo Luật Tư pháp người chưa thành niên.
  • Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng tại tỉnh Bình Dương: Chuyên môn hóa đội ngũ Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên tham gia xét xử án người dưới 18 tuổi; nâng cao chất lượng tranh tụng; tăng cường phối hợp liên ngành giữa Tòa án, Viện kiểm sát, Công an, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội và các tổ chức đoàn thể; xây dựng cơ sở vật chất, trường giáo dưỡng và hoàn thiện mạng lưới trợ giúp pháp lý.

Kết quả và những đóng góp mới

  • Đóng góp về mặt lý luận: Luận án xây dựng hệ thống lý luận đồng bộ về TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong khoa học luật hình sự Việt Nam; làm rõ khái niệm, bản chất hai chiều trong quan hệ pháp luật hình sự, nội dung, giới hạn phát sinh - chấm dứt và các hình thức thực hiện TNHS. Luận án phân định rõ ranh giới giữa TNHS với các biện pháp tác động pháp luật hình sự không gắn với truy cứu TNHS.
  • Đóng góp về mặt thực tiễn và lập pháp:
    • Cung cấp nguồn dữ liệu thực chứng và phân tích toàn diện thực tiễn 10 năm (2014–2023) xét xử sơ thẩm 661 vụ án với 851 bị cáo là người dưới 18 tuổi tại tỉnh Bình Dương – địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam có tỷ lệ di cư thuần dương cao.
    • Chỉ ra các sai sót điển hình trong thực tiễn lượng hình, đặc biệt là xu hướng lạm dụng HPTCTH.
    • Đề xuất hệ thống kiến nghị sửa đổi cụ thể các điều khoản trong BLHS năm 2015 và đóng góp các luận cứ khoa học cho quá trình xây dựng, hoàn thiện Dự thảo Luật Tư pháp người chưa thành niên.
    • Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ tiến hành tố tụng và cơ chế phối hợp quản lý xã hội tại địa bàn tỉnh Bình Dương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn về thời lượng và tính chất bảo mật, khó khăn trong tiếp cận tài liệu điều tra, luận án không nghiên cứu sâu các giai đoạn tố tụng tiền xét xử (khởi tố, điều tra, truy tố) và không nghiên cứu các biện pháp xử lý vi phạm hành chính ngoài luật hình sự đối với người dưới 18 tuổi.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Luận án mở ra hướng tiếp tục nghiên cứu toàn diện quy trình tố tụng hình sự từ khâu tiếp nhận tin báo, khởi tố, điều tra đến truy tố người dưới 18 tuổi; đồng thời nghiên cứu đánh giá tác động sau khi Luật Tư pháp người chưa thành niên được Quốc hội thông qua và áp dụng trên thực tế tại các đô thị công nghiệp lớn.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan lập pháp: Luận án là tài liệu tham khảo trong hoạt động sửa đổi, bổ sung BLHS năm 2015 và xây dựng Luật Tư pháp người chưa thành niên.
  • Đối với cơ quan tiến hành tố tụng: Cung cấp căn cứ khoa học và chỉ dẫn thực tiễn cho Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Điều tra viên trong việc định tội danh, quyết định hình phạt bảo đảm tính tương xứng, nhân đạo và bảo vệ quyền của người dưới 18 tuổi.
  • Đối với công tác đào tạo và nghiên cứu: Là tài liệu tham khảo cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên luật tại các cơ sở đào tạo chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm trách nhiệm hình sự được tác giả luận án xác định như thế nào? Tác giả định nghĩa TNHS là dạng trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất, là hậu quả pháp lý bất lợi mà người phạm tội phải chịu trước Nhà nước do việc thực hiện tội phạm và là kết quả của việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự, được thể hiện ở bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật, hình phạt, biện pháp tư pháp và án tích.

2. Giai đoạn 2014–2023, hệ thống TAND tỉnh Bình Dương đã xét xử bao nhiêu vụ án có bị cáo là người dưới 18 tuổi? Theo thống kê trong luận án, từ năm 2014 đến năm 2023, các TAND trên địa bàn tỉnh Bình Dương đã đưa ra xét xử sơ thẩm 661 vụ án hình sự với tổng cộng 851 bị cáo là người dưới 18 tuổi.

3. Bất cập lớn nhất trong thực tiễn áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi tại Bình Dương là gì? Thực tiễn xét xử cho thấy các Tòa án có khuynh hướng tuyệt đối hóa việc áp dụng HPTCTH, trong khi xem nhẹ và ít áp dụng các hình phạt không giam giữ (như cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ) hoặc các biện pháp tư pháp mang tính giáo dục, phục hồi.

4. Luận án chỉ ra những khiếm khuyết nào trong quy định của BLHS năm 2015 về TNHS đối với người dưới 18 tuổi? BLHS năm 2015 chưa thể hiện rõ thứ tự ưu tiên áp dụng các biện pháp xử lý tại Điều 91; thiếu quy định riêng về hình phạt cảnh cáo; không áp dụng hình phạt tiền cho nhóm từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi; thiếu quy định mức tối thiểu của các hình phạt; khoản 3 Điều 102 (phạm tội chưa đạt), khoản 2 và khoản 3 Điều 103, Điều 104 (tổng hợp hình phạt của nhiều bản án) còn quy định chung chung, chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể.

5. Luận án sử dụng những phương pháp nghiên cứu chủ yếu nào? Luận án kết hợp phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh luật học, phương pháp nghiên cứu lịch sử, phương pháp thống kê xã hội học pháp lý và phương pháp nghiên cứu án điển hình.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Minh Thảo đã giải quyết đồng bộ các vấn đề lý luận và thực tiễn về TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội dựa trên khảo sát thực chứng tại tỉnh Bình Dương giai đoạn 2014–2023. Công trình đã chỉ rõ những bất cập của BLHS năm 2015 và những hạn chế trong thực tiễn xét xử sơ thẩm, từ đó đề xuất hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp thực thi có căn cứ khoa học. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác lập pháp, hoạt động tố tụng của Tòa án và công tác giảng dạy chuyên ngành luật hình sự tại Việt Nam.