CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỒNG PHẠM TRONG TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm đồng phạm trong tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo luật Hình sự Việt Nam 1. Khái niệm đồng phạm Đồng phạm là khi hai hoặc nhiều người cùng có ý định cố ý thực hiện một tội phạm. Điều này có nghĩa là mỗi người tham gia đều có ý đồ phạm tội và họ hợp tác với nhau để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật đó.
Đồng phạm không chỉ đòi hỏi hành động thực tế từ các bên liên quan mà còn yêu cầu sự nhận thức và mong muốn chung về việc cùng tham gia vào hành vi phạm tội [54]. Pháp luật hình sự quy định rằng tội phạm là hành vi nguy hiểm đối với xã hội, được quy định trong Bộ luật Hình sự. Hành vi này do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thực hiện cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cũng như các lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa. Theo quy định của Bộ luật này, những hành vi này phải bị xử lý hình sự [28, Điều 8, Khoản 1].
Đồng phạm là trường hợp có từ hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm [28, Điều 17, Khoản 1]. Một tội phạm có thể do một người hoặc nhiều người cùng thực hiện. Khi nhiều người tham gia vào hành vi cố ý thực hiện một tội phạm cụ thể, đây được gọi là đồng phạm. Đồng phạm là một dạng phạm tội có những đặc điểm đặc thù.
Những đặc điểm này làm cho việc xác định trách nhiệm hình sự trong 8 trường hợp đồng phạm khác biệt so với trường hợp phạm tội do một cá nhân thực hiện, vì vậy cần có các quy định riêng về đồng phạm. Đồng phạm xảy ra khi các đối tượng phạm tội có sự thống nhất trước đó và có ý đồng thuận hoặc hợp tác ý chí để thực hiện tội phạm, dù có bàn bạc hay không [3]. Từ quy định trên, có thể hiểu đồng phạm là những người tham gia vào việc thực hiện một tội phạm. Khi thực hiện những hành vi nguy hiểm cho xã hội, mỗi người đồng phạm không chỉ có ý định cố ý với hành vi phạm tội của mình mà còn biết và mong muốn sự tham gia của những người khác trong vụ án đó.
Việc cố ý của đồng phạm có thể hiện qua hai phương diện là lý trí và ý chí. - Về lý trí: Mỗi người đồng phạm đều nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và đều biết người khác cũng có hành vi nguy hiểm cho xã hội cùng với mình. Luật hình sự không đòi hỏi là mỗi người phải biết được cụ thể về số lượng cụ thể và hành vi của những người đồng phạm khác mà chỉ cần họ nhận thức được có sự tham gia của người khác và hành vi của người khác là hành vi nguy hiểm cho xã hội, cùng phối hợp để thực hiện một tội phạm. Và trong đồng phạm, mỗi người đồng phạm đều thấy trước được hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình và đều thấy trước hậu quả chung của tội phạm mà họ tham gia thực hiện.
- Về ý chí: Những người đồng phạm khi thực hiện hành vi đều mong muốn cùng thực hiện tội phạm và mong muốn hậu quả chung của tội phạm xảy ra. Việc xác định hành vi, dấu hiệu chủ quan của pháp nhân thương mại sẽ căn cứ vào hành vi và dấu hiệu chủ quan của những con người cụ thể đại diện cho pháp nhân, nhân danh pháp nhân thực hiện các hành vi theo sự chỉ đạo, điều hành của pháp nhân, mang lại lợi ích cho pháp nhân và giải quyết theo nguyên tắc thông thường như trường hợp đồng phạm giữa cá nhân với cá nhân. * Phân loại đồng phạm Việc phân loại đồng phạm có thể dựa trên hai căn cứ như sau: 9 (i) Dựa trên dấu hiệu chủ quan, đồng phạm có thể được phân thành đồng phạm có thông mưu trước và đồng phạm không có thông mưu trước. Một là, nếu căn cứ vào dấu hiệu chủ quan, đồng phạm được phân loại thành đồng phạm có thông mưu trước và đồng phạm không có thông mưu trước.
Đồng phạm không có thông mưu trước: Đây là hình thức đồng phạm mà các đối tượng tham gia không bàn bạc hay thỏa thuận với nhau trước về việc thực hiện tội phạm. Đồng phạm có thông mưu trước: Trong trường hợp này, các đối tượng tham gia đã có sự bàn bạc và thỏa thuận trước với nhau về việc cùng thực hiện tội phạm. Hai là, nếu dựa trên những đặc điểm khách quan và chủ quan của mối quan hệ giữa những người đồng phạm, thì đồng phạm có thể được phân thành ba loại: đồng phạm giản đơn, đồng phạm phức tạp và phạm tội có tổ chức (hay còn gọi là phạm tội có tổ chức). Đồng phạm giản đơn là khi những người tham gia không có sự thông mưu trước, tất cả đều đóng vai trò là người thực hành tội phạm.
Đồng phạm phức tạp là khi có sự phân chia vai trò rõ ràng giữa những người tham gia. Ngoài một hoặc vài người thực hành, còn có những người khác như người tổ chức, người xúi giục, hoặc người giúp sức. Trong trường hợp này, chỉ có một hoặc một vài người thực hiện hành vi cụ thể mô tả trong cấu thành tội phạm. Phạm tội có tổ chức là khi có sự câu kết chặt chẽ giữa những người tham gia.
Ở dạng này, các thành viên có sự phối hợp mật thiết, phân công nhiệm vụ cụ thể, và chuẩn bị kỹ lưỡng cho việc thực hiện tội phạm [18, tr. Tội 10 phạm có tổ chức là hình thức hoạt động phạm tội của tội phạm, quá trình thực hiện tội phạm được thực hiện dưới dạng có tổ chức, hay nói cách khác là có sự phân còng, phân cấp giữa các thành viên tham gia trong quá trình hoạt động phạm tội. Tinh hình, diễn biến của tội phạm có tổ chức đã và đang gây ra rất nhiều khó khăn cho các cơ quan chức năng trong công tác quản lý xã hội, quản lý nhà nước về an ninh trật tự và công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Đặc biệt, trong đấu tranh, xử lý đối với những đối tượng cầm đầu, giữ vai trò trọng yếu trong các tổ chức tội phạm, băng nhóm [36, tr.
Bộ luật Hình sự quy định rằng phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm trong đó có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm. Đây là trường hợp nhiều người cố ý thảo luận, bàn bạc và lập kế hoạch để thực hiện một tội phạm, thường dưới sự điều khiển của một người đứng đầu. Tuy nhiên, luật không lượng hóa cụ thể mức độ câu kết hay bàn bạc giữa những người phạm tội trong trường hợp này, cũng như sự phân công nhiệm vụ và vai trò của các đồng phạm. Mỗi người thực hiện một hoặc một số hành vi và phải tuân theo sự điều khiển của người cầm đầu.
Mức độ tăng nặng trách nhiệm hình sự sẽ phụ thuộc vào vai trò của từng người tham gia và quy mô của vụ án. Do đó, khi quyết định hình phạt, mức phạt của người tổ chức sẽ khác với các đồng phạm khác nếu các tình tiết khác của vụ án là như nhau [28, Điều 17, Khoản 2]. Pháp luật hình sự phân loại người đồng phạm [28, Điều 17, Khoản 3] thành: (1) cá nhân trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội (người thực hiện); (2) cá nhân có trách nhiệm chủ mưu, cầm đầu và chỉ huy việc thực hiện hành vi phạm tội (người tổ chức); (3) cá nhân kích động, dụ dỗ hoặc thúc đẩy người khác thực hiện hành vi phạm tội (người xúi giục); (4) cá nhân cung cấp điều kiện tinh thần hoặc vật chất để hỗ trợ việc thực hiện hành vi phạm tội (người giúp sức) [17, tr. Như vậy, bên cạnh người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, những cá nhân này cũng đều phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Khái niệm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Thuật ngữ "cố ý gây thương tích" theo từ điển luật học được hiểu là hành vi của một người có ý định rõ ràng và cố ý thực hiện các hành vi gây thương tích, tức là làm tổn thương sức khỏe, thể chất của người khác mà không có sự đồng ý của họ. Đây là một khái niệm quan trọng trong lĩnh vực pháp luật hình sự, phục vụ cho việc xác định và xử lý các hành vi có tính chất cố ý và gây hại đối với cá nhân khác [54, tr. Thuật ngữ "cố ý gây tổn hại cho sức khỏe người khác" trong lĩnh vực pháp luật được hiểu là hành vi của một người có ý định rõ ràng và cố ý thực hiện các hành vi gây hại đến sức khỏe, thể chất của người khác. Đây là một khái niệm quan trọng trong pháp luật hình sự, liên quan đến các tội phạm như gây thương tích, gây thương tích nặng, hoặc các hành vi gây nguy hiểm cho sức khỏe của người khác mà có sự đồng ý của họ.
Nghiên cứu về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là một khía cạnh quan trọng trong lĩnh vực pháp luật hình sự, liên quan đến việc xác định và xử lý những hành vi phạm tội có tính chất cố ý đối với sức khỏe và an toàn của người khác. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi mà người phạm tội có ý định rõ ràng và cố ý thực hiện hành vi gây thương tích, làm hại đối với người khác. Điều này phản ánh sự cố ý và tính chất mưu tính trong việc gây hại cho người khác, khác với các hành vi vô ý hay lơ đễnh. Để chứng minh tội cố ý, hệ thống pháp luật yêu cầu có đầy đủ bằng chứng về ý định rõ ràng của người phạm tội.
Bằng chứng này có thể bao gồm lời khai, chứng cứ vật chất, chứng cứ tình tiết và các bằng chứng khoa học để xác minh tính cố ý của hành vi.