Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ĐỒNG PHẠM TRONG TỘI GIẾT NGƯỜI THEO BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015 CỦA VIỆT NAM 1. Khái niệm, đặc điểm đồng phạm trong tội giết người 1. Khái niệm đồng phạm trong tội giết người Ở Việt Nam, quyền con người luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta. Điều 20 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm, không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thực đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm”.
Để đảm bảo và thực hiện các quyền con người, quyền công dân được Hiến pháp năm 2013 thừa nhận, kế thừa các Bộ luật hình sự trước đó, Bộ luật hình sự năm 2015 đã dành một chương riêng - Chương XIV (từ Điều 123 đến Điều 156) quy định về các tội phạm xâm phạm tới quyền sống, quyền được bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người và quy định trách nhiệm hình sự đối với những người thực hiện các hành vi phạm tội này. Đây là cơ sở quan trọng để các cơ quan nhà nước và toàn xã hội bảo vệ tốt các quyền con người, quyền cơ bản của công dân. Trong số các quyền nhân thân, quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người là quyền tự nhiên, thiêng liêng và cao quý nhất, không một quyền nào có thể so sánh được. Chỉ trên cơ sở quyền sống, con người mới có các quyền khác mà pháp luật quy định.
Chính vì vậy, ở tất cả các quốc gia trên thế giới, hành vi tước đoạt quyền sống của con người trái pháp luật luôn được coi là hành vi nguy hiểm cao cho xã hội và bị truy cứu trách nhiệm cao nhất - trách nhiệm hình sự. Pháp luật hình sự 7 Việt Nam từ năm 1985 đến nay luôn quy định tội giết người là một trong những tội đặc biệt nghiêm trọng và phải chịu trách nhiệm hình sự với mức chế tài nghiêm khắc nhất. Theo Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015, tội giết người có các đặc điểm pháp lý sau: - Là hành vi xâm phạm xâm phạm quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người thông qua sự tác động làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động - con người đang sống. Trong đó, thời điểm bắt đầu sự sống của con người, thường được xác định là thời điểm đứa trẻ được tách (đẻ tự nhiên hoặc đẻ mổ) ra khỏi người mẹ.
- Hành vi khách quan của tội giết người là hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng người khác. Hành vi khách quan thể hiện dưới hình thức hành động (đâm, chém,…) hoặc không hành động (Y tá không chăm sóc bệnh nhân dẫn đến bệnh nhân chết…). Hậu quả chết người là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm. Giữa hành vi khách quan và hậu quả chết người có mối quan hệ nhân quả.
- Chủ thể của tội phạm là người đủ 14 tuổi trở lên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. - Tội phạm thực hiện với lỗi cố ý, khi có hành vi tước đoạt tính mạng người khác, người phạm tội nhận thức rõ hành động của mình tất yếu hoặc có thể gây cho nạn nhân chết và mong muốn hoặc bỏ mặc cho nạn nhân chết; động cơ, mục đích không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm tội giết người. Để đánh giá ý thức của người phạm tội về việc chiếm đoạt tính mạng của người khác trong nhiều trường hợp được chứng minh “ý thức chủ quan thông qua hành vi khách quan”, thông qua tư thế, vị trí, chiều hướng tác động, cường độ tấn công của hung khí lên cơ thể con người và “vùng nguy 8 hiểm”, “vùng trọng yếu của cơ thể” là những vùng quan trọng, chủ yếu của cơ thể con người nếu bị tổn thương có thể quyết định việc tồn tại hoặc tử vong của con người. Trong thực tiễn pháp lý, một tội phạm có thể chỉ do một người (hoặc một pháp nhân thương mại) thực hiện, nhưng cũng có thể do hai hoặc nhiều người (hoặc nhiều một pháp nhân thương mại) cùng tham gia thực hiện.
Khi những người phạm tội cùng chung hành động và cùng cố ý thực hiện một tội phạm cụ thể thì sự kiện đó gọi là đồng phạm. Trong Luật hình sự, đồng phạm là một hình thức phạm tội có những đặc điểm riêng biệt so với tội phạm có thể chỉ do một người (hoặc một pháp nhân thương mại) thực hiện nên cần có những quy định riêng về đồng phạm [19, tr. Luật hình sự Việt Nam đã quy định từ rất sớm chế định đồng phạm với nhiều thuật ngữ khác nhau như: “tòng phạm”, “cộng phạm”… Tuy nhiên, thuật ngữ đồng phạm được sử dụng thống nhất từ Bộ luật hình sự năm 1985, Bộ luật Hình sự năm 1999 và Bộ luật Hình sự năm 2015 [19, tr. Đồng thời, hình thức phạm tội đồng phạm là hình thức có thể xảy ra trong mọi tội phạm, do đó Bộ luật Hình sự năm 2015 không có quy định về các trường hợp đồng phạm trong từng tội phạm cụ thể mà chỉ có quy định chung về các trường hợp đồng phạm tại khoản 1 Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015, theo đó: “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm”.
Như vậy, tội phạm giết người xảy ra có thể do một người thực hiện, nhưng cũng có thể do hai hoặc nhiều người cùng phối hợp thực hiện. Pháp luật của nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam đều quy định hành vi giết người được thực hiện bởi đồng phạm là hành vi có tính chất nguy hiểm cho xã hội hơn so với hành vi giết người do một người thực hiện bởi những người đồng phạm có sự tập trung sức lực, trí tuệ, sự phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau 9 giữa những người đồng phạm cho phép chúng không chỉ thực hiện tội phạm giết người một cách dễ dàng hơn, hậu quả của tội phạm giết người có thể xảy ra đến cùng, dễ dàng che dấu vết của tội phạm nhằm tránh khỏi sự điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan bảo vệ pháp luật. Do đó, Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định đồng phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự ở một số tội tại Phần các tội phạm cụ thể và tình tiết phạm tội có tổ chức - hình thức đặc biệt của đồng phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Từ các đặc điểm, dấu hiệu của tội giết người và đồng phạm trong tội giết người nêu trên, có thể đưa ra khái niệm đồng phạm trong tội giết người như sau: “Đồng phạm trong tội giết người là hành vi cố ý tham gia chung vào việc cố ý tước đoạt tính mạng người khác một cách trái pháp luật của hai người trở lên đáp ứng yêu cầu của chủ thể tội phạm”.
Đặc điểm đồng phạm trong tội giết người Căn cứ khái niệm đồng phạm được quy định tại Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015 về tội giết người có thể xác định các dấu hiệu cơ bản của đồng phạm trong tội giết người như sau: Thứ nhất, số lượng người tham gia trong vụ án đồng phạm trong tội giết người là phải từ 2 người trở lên và những người này phải có đủ điều kiện là chủ thể của tội giết người theo quy định của Bộ luật hình sự. Số lượng người tham gia đồng phạm trong tội giết người phải là từ 2 người trở lên, đây là dấu hiệu bắt buộc, nếu thiếu dấu hiệu về số lượng người tham gia thực hiện một tội phạm thì sẽ không phải là đồng phạm mà chỉ là trường hợp phạm tội đơn lẻ. Đồng thời, những người tham gia đồng phạm phải là những người có đủ điều kiện là chủ thể của tội giết người theo quy định của Bộ luật Hình sự, cụ thể: Theo quy định của Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm 10 trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, trong đó có tội giết người quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015. Điều 21 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự, theo đó: “Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự”.
Như vậy, theo Điều 12 và Điều 21 Bộ luật Hình sự năm 2015, những người đồng phạm trong đồng phạm trong tội giết người phải là những người từ đủ 14 tuổi trở lên và không thuộc trường hợp không có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 21 Bộ luật Hình sự 2015. Ví dụ: Nguyễn Văn A là người trên 18 tuổi có đủ năng lực hành vi đã xúi giục, cung cấp vũ khí cho B là người dưới 14 tuổi để giết C. Trong vụ việc này, vì B là người chưa đủ năng lực trách nhiệm hình sự, do đó B không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người. Trong trường hợp này, không thoả mãn dấu hiệu đồng phạm quy định tại Điều 17 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
A phải chịu trách nhiệm hình sự độc lập (với tính tiết tăng nặng sử dụng người dưới 18 tuổi phạm tội). Thứ hai, có sự liên kết về hành vi cùng thực hiện tội giết người, hậu quả chết người là hậu quả chung của các hành vi do các đồng phạm thực hiện. Trong đồng phạm giết người, hành vi tham gia thực hiện một tội phạm có thể là: hành vi trực tiếp thực hiện, hành vi tổ chức, hành vi xúi giục, hành vi giúp sức thực hiện tội giết người. Nếu không có một trong bốn loại hành vi này thì không được coi là cùng thực hiện tội phạm và vì thế cũng không phải là đồng phạm.
Hành vi của người đồng phạm này liên kết chặt chẽ với hành vi của người đồng phạm kia. Hành vi của những người đồng phạm phải hướng về việc tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật, phải tạo 11 điều kiện, hỗ trợ cho nhau để thực hiện hành vi phạm tội, nói cách khác hành vi của đồng phạm này là tiền đề cho hành vi của đồng phạm kia.