Chương 1: Một số vấn đề lý luận và pháp luật về áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. - Chương 2: Thực trạng áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tại địa bàn tỉnh Hải Dương. - Chương 3: Định hướng và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ÁP DỤNG HÌNH PHẠT TÙ CÓ THỜI HẠN ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI 1.
Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo luật hình sự Việt Nam 1. Khái niệm áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo luật hình sự Việt Nam a. Khái niệm áp dụng hình phạt tù có thời hạn Áp dụng hình phạt là hoạt động do cơ quan hiến định thực hiện quyền tư pháp tiến hành theo quy định của pháp luật. Ở nghĩa rộng nhất tư pháp là quyền xét xử của Toà án, cũng như các hoạt động áp dụng pháp luật của hệ thống các cơ quan như Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát… và cả các cơ quan bổ trợ tư pháp như luật sư, công chứng, giám định, hộ tịch… nhằm bảo đảm cho việc thực hiện quyền xét xử đạt được hiệu quả cao, để giải quyết những xung đột của các mối quan hệ xã hội.
Hay tất cả những vấn đề liên quan đến hoạt động xét xử của toà án đều thuộc nội hàm của khái niệm tư pháp. Tuy nhiên cách hiểu này còn nhiều điểm chưa hợp lý bởi lẽ, cách hiểu rộng về quyền tư pháp đang bao trùm lên địa hạt hoạt động của các cơ quan hành pháp, luật sư và một số thiết chế bổ trợ tư pháp khác, không mang tính chất quyền lực nhà nước, không mang tính chất tài phán, phân xử không phản ánh được nội hàm vốn có của khái niệm quyền tư pháp. Do đó, dưới góc độ khoa học pháp lý, cần thiết phải hiểu quyền tư pháp (Judiciary power) là một bộ phận của quyền lực nhà nước bên cạnh quyền lập pháp, hành pháp - là quyền xét xử, phân xử, phán quyết của nhà nước. Quyền tư pháp do Tòa án thực hiện thông qua hệ thống thủ tục tố tụng chặt chẽ để giải quyết xung đột của các quan hệ xã hội nhằm 11 bảo vệ công lý, quyền, lợi ích chính đáng của cá nhân, tổ chức và lợi ích của nhà nước.
Từ phân tích trên có thể khẳng định, Toà án là chủ thể duy nhất có quyền áp dụng hình phạt. Tù có thời hạn là một trong các hình phạt chính được áp dụng với người phạm tội. Đây là biện pháp cưỡng chế qua đó, thông qua một bản án có hiệu lực của Toà án nhân dân có thẩm quyền, nhà nước thực hiện quyền lực, tuyên bố tước tự do của người phạm tội trong một khoảng thời gian xác định. Người phạm tội phải chấp hành hình phạt tù trong một cơ sở giam giữ.
Có thể thấy, so với các hình phạt chính khác như cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ và trục xuất, tù có thời hạn có tính chất nghiêm khắc hơn đáng kể vì nó tước bỏ tự do của chủ thể bị kết án trong một thời gian xác định, qua đó, cách ly chủ thể này khỏi xã hội. Đối tượng phải chấp hành hình phạt tù phải thi hành án trong môi trường giam giữ, phải thực hiện các chế độ kỷ luật, sinh hoạt, giáo dục theo quy định cho đến khi hết thời hạn được tuyên trong bản án kết tội. Do đó, có thể khẳng định việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn cho thấy sự phản ứng nghiêm khắc và mạnh mẽ của nhà nước với chủ thể thực hiện hành vi xâm phạm hoặc đe doạ gây thiệt hại đến các quan hệ xã hội quan trọng được nhà nước bảo vệ. Do tính chất cách ly người phạm tội khỏi xã hội nên trong hệ thống hình phạt của Việt Nam, tù có thời hạn được xếp vào nhóm các hình phạt chính tước tự do.
Đây là loại hình phạt được áp dụng đối với các tội phạm từ ít nghiêm trọng đến các tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng khi xét thấy các hình phạt không tước tự do, các biện pháp cưỡng chế khác không còn đủ sức ngăn chặn, răn đe đối với hành vi phạm tội. Do có phổ áp dụng rộng, tù có thời hạn là một trong những hình phạt phổ biến nhất trong luật hình sự [15, tr. Áp dụng hình phạt tù có thời hạn là hoạt động của Toà án sau khi định đã định tội danh trên cơ sở hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên toà [6, 12 tr. Đây là một biện pháp nhằm thực thi pháp luật hình sự, qua đó Toà án nhân dân thực hiện quyền tư pháp, lựa chọn mức hình phạt tù có thời hạn tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội để áp dụng với người phạm tội làm cơ sở để ra phán quyết trong bản án kết tội.
Tóm lại, áp dụng hình phạt tù có thời hạn là việc Toà án sử dụng biện pháp cưỡng chế hình sự nghiêm khắc, buộc một người phạm tội phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời gian được quy định trong Luật hình sự trên cơ sở đánh giá toàn diện hồ sơ vụ án, các quy định của pháp luật. Khái niệm áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Lý luận và thực tiễn đã chứng minh lứa tuổi từ 14 đến dưới 18 tuổi chứng kiến nhiều biến đổi mang tính chất căn bản về đời sống của một cá nhân. Những yếu tố về tâm lý, sinh lý của lứa tuổi này có sự phát triển khá phức tạp do những thay đổi về hóc môn, nội tiết tố, sự xuất hiện những yếu tố mới của sự trưởng thành, kết quả của sự biến đổi cơ thể, sự tự ý thức, các mối quan hệ với người lớn, với bạn bè, của hoạt động học tập, hoạt động xã hội. các yếu tố này đã có những tác động sâu sắc đến lối sống, hành vi, cách thức một người nhìn nhận, đánh giá về cuộc sống và những sự vật, hiện tượng xung quanh mình [9, tr.
Đây cũng là lứa tuổi các em có sự phát triển nhanh về thể chất, đặc biệt là chiều cao, cân nặng, xuất hiện những dấu hiệu thay đổi về mặt sinh lý, sinh dục nên xuất hiện các hành vi bạo lực khi muốn thể hiện sức mạnh bản thân, từ đó dễ dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật hình sự như cố ý gây thương tích; chống người thi hành công vụ, gây rối trật tự công cộng. Chỉ cần có va chạm nhỏ cũng có thể dẫn đến việc sử dụng hành vi bạo lực để giải quyết và bất chấp những hậu quả nghiêm trọng, suy nghĩ cảm tính, bồng bột [1]. Cũng ở lứa tuổi này, đứa trẻ thường chưa nhận thức đầy đủ về pháp luật, kết hợp với những lý do đã phân tích ở trên, việc việc người dưới 18 tuổi thực hiện những hành vi trái pháp luật thường khá phổ biến, thậm chí nhiều hành vi có tính chất, mức 13 độ nguy hiểm đáng kể cho xã hội, đến mức phải bị truy cứu TNHS. Hiện nay, pháp luật các nước có cách tiếp cận khác nhau về người dưới 18 tuổi phạm tội.
Chẳng hạn ở Việt Nam pháp luật quy định người từ đủ 14 tuổi là chủ thể của tội phạm trong một số trường hợp nhất định; người từ đủ 16 tuổi phải chịu TNHS về tất cả các tội định phạm. Như vậy chỉ người nào từ đủ 14 tuổi trở lên mới có đầy đủ năng lực thực hiện một số hành vi nhất định bị coi là tội phạm (hay phạm một tội được quy định trong BLHS). Trong khi đó, ở các quốc gia khác như Trung Quốc, Canada… người từ đủ 12 tuổi đã phải chịu TNHS. Thậm chí nhiều nước quốc gia không quy định độ tuổi tối thiểu phải chịu TNHS.
Sự không nhất quán trong quan niệm về người dưới 18 tuổi phạm tội còn thể hiện trong chính sách, pháp luật của các quốc gia. Ở Việt Nam, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi được xác định là trẻ em theo quy định của Luật Trẻ em; trong khi đó, người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi được coi là người chưa thành niên. Trước BLHS năm 2015, pháp luật hình sự sử dụng một thuật ngữ chung để chỉ những người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội là người chưa thành niên. Hiện nay Công ước của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em năm 1989 quy định trẻ em là những người dưới 18 tuổi [7].
Mặc dù Công ước cũng thừa nhận pháp luật của quốc gia có thể quy định độ tuổi của trẻ em thấp hơn phù hợp với điều kiện cụ thể của quốc gia. Tuy nhiên, quan điểm trẻ em là người dưới 18 tuổi được thể hiện xuyên suốt trong Các quy tắc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do năm 1990, cùng nhiều văn kiện quan trọng của tổ chức này, được đông đảo các quốc gia trên thế giới ghi nhận trong pháp luật. Dù còn nhiều điểm chưa thống nhất, tuy nhiên trong khoa học luật hình sự đều thống nhất việc xác định một người chưa thành niên phạm tội phải căn cứ trên cơ sở những dấu hiệu về sinh học, tâm lý, sinh lý, thể chất và khả năng nhận thức của nhóm chủ thể này [5, tr. Ở Việt Nam, một người dưới 18 tuổi được xác định là phạm tội khi thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội 14 trong thời điểm từ khi người đó đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi bị luật hình sự quy định là tội phạm.
Từ những phân tích trên, có thể hiểu người dưới 18 tuổi phạm tội là những người thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự quy định là tội phạm và phải chịu TNHS trong giai đoạn từ khi họ đủ tuổi tối thiểu chịu TNHS đến dưới 18 tuổi. Tù có thời hạn là một trong những hình phạt phổ biến áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Theo chính sách hình sự nhân đạo của Việt Nam, người dưới 18 tuổi phạm tội không phải chấp hành hình phạt tù chung thân và tử hình. Do đó, tù có thời hạn là hình phạt chính nghiêm khắc nhất đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.