CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TỘI CHO VAY LÃI NẶNG TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ 1. Một số vấn đề lý luận về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự trong luật hình sự 1. Khái niệm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự Khái niệm một tội phạm cụ thể phải xuất phát từ khái niệm tội phạm nói chung. Trong khoa học luật hình sự, tội phạm là khái niệm rất quan trọng, các BLHS đều đưa ra khái niệm tội phạm, các khái niệm này thay đổi theo thời gian, ngày càng hoàn thiện hơn.
Trong đó, BLHS năm 2015 (SĐ, BS năm 2017) quy định: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực TNHS hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự. Để nghiên cứu về khái niệm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, cần làm rõ một số khái niệm khác như vay, cho vay, lãi, lãi nặng, giao dịch dân sự. Khái niệm “vay” là “nhận tiền hay vật của người khác để sử dụng với điều kiện sẽ trả lại bằng cái cùng loại ít nhất có số lượng hoặc giá trị tương đương” [47, tr. “Cho vay” là việc một người/một tổ chức cho người khác sử dụng tài 6 sản thuộc sở hữu của mình trong một khoảng thời gian và người vay phải hoàn trả tài sản đó cho người cho vay, hai bên có thể thỏa thuận có lãi suất hoặc không có lãi suất.
“Vay” và “cho vay” là giao dịch dân sự, thường được thể hiện dưới dạng hợp đồng vay tài sản, trong đó một bên nhận và một bên giao tiền hoặc vật theo thỏa thuận. “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định” [26]. Đối tượng của hợp đồng vay tài sản là tài sản nhưng thực tế thường là tiền. Như vậy, hợp đồng vay tài sản là một loại giao dịch dân sự được thực hiện dưới dạng hành vi pháp lý đa phương nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự.
Nó thể hiện ý chí, mục đích của các chủ thể giam gia giao kết hợp đồng. Mỗi bên trong hợp đồng vay tài sản có thể có một hoặc nhiều chủ thể tham gia. “Trong hợp đồng vay tài sản, ý chí của một bên đòi hỏi sự đáp lại của bên kia, tạo thành sự thống nhất ý chí của các bên, từ đó mới hình thành được hợp đồng” [42, tr. Theo quy định của pháp luật [36], hợp đồng vay tài sản trong giao dịch dân sự gồm 02 loại: Hợp đồng vay tài sản là tiền giữa tổ chức tín dụng với khách hàng (hợp đồng tín dụng) và hợp đồng vay tài sản là tiền giữa cá nhân, pháp nhân không phải là tổ chức tín dụng với nhau (hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng).
Đối với hợp đồng tín dụng, có sự tham gia của tổ chức tín dụng pháp luật còn điều chỉnh bằng một số luật chuyên ngành là Luật Ngân hàng, Luật Các tổ chức tín dụng và các văn bản hướng dẫn liên quan; hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng tuân theo quy định về lãi suất được quy định trong BLDS. Trong các hợp đồng vay tài sản, thông thường, ngoài tiền gốc ban đầu 7 thì bên vay phải trả thêm cho bên cho vay một khoản tiền được gọi là tiền lãi. Tiền lãi này được tính dựa trên phần trăm số tiền gốc tương ứng được gọi là lãi suất. “Lãi suất” được hiểu là tỷ lệ phần trăm trên số tiền gốc mà người vay phải trả thêm cho người cho vay trong một khoảng thời gian nhất định.
Lãi suất do các bên tự thỏa thuận trong giới hạn của pháp luật quy định. Giới hạn của pháp luật về lãi suất thường xuyên được điều chỉnh, thay đổi theo từng giai đoạn nhất định. Lãi suất vượt quá mức giới hạn pháp luật Việt Nam quy định sẽ được xác định là lãi nặng và sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, bảo vệ bên vay trong hợp đồng vay tài sản. Từ các khái niệm trên có thể đưa ra khái niệm về hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự:“Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự là hành vi của bên cho vay trong hợp đồng vay tài sản khi cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất mà pháp luật cho phép các chủ thể trong giao dịch dân sự được thỏa thuận nhằm thu lợi bất chính.” Tuy nhiên, không phải bất kỳ hành vi cho vay lãi nặng nào cũng cấu thành tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
Từ các khái niệm trên với khái niệm tội phạm quy định tại Điều 8 BLHS năm 2015 (SĐ, BS năm 2017) và Điều 201 BLHS năm 2015 (SĐ, BS năm 2017), có thể đưa ra khái niệm về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự: Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự được hiểu là hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý, cho chủ thể khác vay tài sản với mức lãi suất cao hơn gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất do nhà nước quy định tại thời điểm vay và được quy định trong Bộ luật Hình sự. Như vậy, để trở thành tội phạm, hành vi cho vay lãi nặng phải thỏa mãn bốn dấu hiệu của tội phạm đó là: tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội của hành 8 vi, tính có lỗi, tính trái pháp luật hình sự và tính phải chịu hình phạt. Bên cạnh đó, hành vi này phải được thực hiện một cách cố ý bởi người có năng lực TNHS và đạt độ tuổi do luật hình sự quy định. Đó là người khi thực hiện hành vi phạm tội không mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình và từ đủ 16 tuổi trở lên.
Cơ sở và ý nghĩa việc quy định tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo quy định của Bộ luật hình sự 1.1 Cơ sở chính trị Việc xây dựng các quy định của pháp luật hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự được dựa trên cơ sở chính trị vững chắc, xuyên suốt qua các giai đoạn lịch sử cho đến hiện nay. Đảng ta luôn có quan điểm, chủ trương nhất quán trong đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, trong đó có tội phạm về trật tự quản lý kinh tế, mà tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự là một trong số đó. Chủ trương này được thể hiện qua nhiều văn bản qua các thời kỳ lịch sử. Tại Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng và Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010 định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49- NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đều đưa ra chủ trương một cách rõ ràng về việc xây dựng hệ thống pháp luật Việt Nam.
Để “Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” thì “Công tác tư pháp phải ngăn ngừa có hiệu quả và xử lý kịp thời, nghiêm minh các loại tội phạm hình sự, đặc biệt là các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội tham nhũng và các loại tội phạm có tổ 9 chức; bảo vệ trật tự, kỷ cương; bảo đảm và tôn trọng dân chủ, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân”. Muốn vậy, hệ thống pháp luật phải “Thể chế hoá kịp thời, đầy đủ, đúng đắn đường lối của Đảng, cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân; xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển văn hoá - xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh”. Trong đó, các văn bản trên cũng đã thể hiện quan điểm của Bộ Chính trị khi nhấn mạnh nhiệm vụ “hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự, pháp luật dân sự và thủ tục tố tụng tư pháp. Sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến lĩnh vực tư pháp phù hợp mục tiêu của chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Coi trọng việc hoàn thiện chính sách hình sự và thủ tục tố tụng tư pháp, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội”. Bên cạnh đó các văn bản trên cũng đưa ra quan điểm Nhà nước cần chú trọng “sửa đổi, bổ sung các chính sách hình sự và từng bước sửa đổi, hoàn thiện pháp luật về tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính. Thực hiện có hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, đặc biệt là tội tham nhũng, tội phạm có tổ chức hoạt động theo kiểu “xã hội đen””.