Chương 1. Một sô van đề lý luận và pháp luật về định tội danh đối với tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Thực tiễn định tội danh đối với tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự tại Tòa án nhân dân các cấp tỉnh Thanh Hoá giai đoạn 2019- 2023. Yêu cầu và một số giải pháp nâng cao hiệu quả, chất lượng định tội danh tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
MOT SO VAN ĐÈ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VE DIN TOI DANH DOI VỚI TOI CHO VAY LAI NANG TRONG GIAO DỊCH DAN SU 1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa định tội danh đối với tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự 1.1 Khát niệm định tội danh tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự Định tội danh và quyết định hình phạt là hai giai đoạn quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Để áp dụng đúng điều luật và khung hình phạt cho người phạm tội thì việc định tội danh phải chính xác. Định tội danh là một hoạt động tố tụng xuyên suốt trong tat cả các giai đoạn tố tụng từ điều tra, truy tố và xét xử một vụ án hình sự nhằm tìm ra sự thật khách quan của hành vi phạm tội, từ đó xử lý đúng người, đúng tội, tránh gây tình trạng oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm.
Hiện nay đã có rất nhiều các nhà nghiên cứu pháp luật đưa ra khái niệm định tội danh khác nhau: Theo quan điểm của GS.TSKH Lê Cảm: “Định tội danh là một quá trình nhận thức lý luận có tính logic đồng thời là một trong những dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự, cũng như pháp luật tố tụng 10 hình sự và được tiến hành bằng cách trên cơ sở các chứng cứ, tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án hình sự đối chiếu, so sánh và kiểm tra để xác định được sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thê tương ứng do luật hình sự quy định nhằm đạt được sự thật khách quan, tức là đưa ra sự đánh giá chính xác tội phạm về mặt pháp lý hình sự, làm tiền đề cho việc cá thể hóa và phân hóa trách nhiệm hình sự một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật”. Theo quan điểm của GS.TS Võ Khánh Vinh: “Định tội danh là việc xác nhận và ghi nhận về mặt pháp lý hình sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi tội phạm cụ thé đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm đã được quy định trong quy phạm pháp luật hình sự”.27-28] Theo quan điểm của PGS. Trịnh Quốc Toản cho rằng: "Định tội danh là việc xác nhận về mặt pháp lý sự phù hợp đồng nhất giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thê đã thực hiện với các yếu tố cầu thành tội phạm cụ thể tương ứng được quy định trong Bộ luật hình sự”.7] Về khái niệm này, PGS.TS Dương Tuyết Miên cho rằng: “Định tội danh là hoạt động thực tiễn của các cơ quan tiến hành tổ tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án) và một số cơ quan khác có thâm quyên theo quy định của pháp luật để xác định một người có phạm tội không, nếu phạm tội thì đó là tội gì, theo điều luật nào của bộ luật hình sự hay nói cách khác đây là quá trình xác định tên gọi cho hành vi nguy hiểm đã thực hiện” [4, tr.9] Ngoài ra, GS.TSKH Lê Cảm cho rằng, có hai hình thức định tội danh. “Trong lý luận về Luật hình sự căn cứ vào chủ thé tiễn hành định tội danh va hậu quả pháp lý của việc định tội danh, người ta thành hai loại định tội danh: định tội danh chính thức và định tội danh không chính thức” [5, tr.
Trong phạm vi luận văn nay, tác giả chi đi theo hướng định tội danh chính 11 thức đối với tội cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự và đã rút ra được nhưng điểm chung từ những khái niệm khác nhau của các nhà khoa học như sau: + Thứ nhất, định tội danh là quá trình nhận thức lý luận có tính logic về mặt pháp lý sự phù hợp đồng nhất giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện với các yếu tố cầu thành tội phạm của một hoặc nhiều tội được quy định trong pháp luật hình sự. + Thứ hai, định tội danh được thực hiện bởi các cơ quan có thâm quyền dựa trên cơ sở quy định của pháp luật hình sự. + Thứ ba, định tội danh là tiền đề cho việc đưa ra quyết định hình phạt và giải quyết các vấn đề khác có liên quan đến trách nhiệm hình sự đối với người phạm tdi. Từ những phân tích trên, dưới góc độ quan điểm cá nhân, tác giả cho rằng: “Định tội danh là quá trình được thực hiện bởi các cơ quan có thẩm quyên trong việc nghiên cứu, đánh giá, đối chiếu từ những chứng cứ, tài liệu, hành vi và các tình tiết trong thực tế với các dấu hiệu của cầu thành tội phạm trong các quy định của Bộ luật hình sự” Khái niệm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự Theo khoản 1 điều 8 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đôi, bỗ sung năm 2017 quy định: “t6i phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong bộ luật hình sự, do người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cổ ý hay vô ý, xâm phạm đến độc lập, chủ quyên, thong nhất, toàn vẹn lãnh thổ của tô quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nên văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm đến quyên con người, quyên lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm đến những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chu nghĩa ” 12 Theo khái niệm trên, tội phạm theo Bộ luật hình sự Việt Nam phải bao gồm các yếu tố 4 yếu tố Thứ nhất, tính nguy hiểm cho xã hội, được thé hiện ở việc hành vi đó gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội được Luật Hình sự bảo vệ.
Để xác định hành vi có nguy hiểm cho xã hội hay không ta phải căn cứ vào Bộ luật Hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành luật Hình sự; sau đó có thể căn cứ vào một số tình tiết như: Mức độ thiệt hại mà hành vi gây ra; Công cụ, thủ đoạn, phương tiện thực hiện hành vi; Nhân thân người thực hiện: Họ có những mối quan hệ tốt hay xấu, bản thân đã từng phạm tội hay chưa, trình độ học vấn của họ thấp hay cao?. Thứ hai, hành vi của tội phạm do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện. Một hành vi được coi là tội phạm khi người thực hiện phải có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi nhất định. Có nghĩa là nếu một người thực hiện một hành vi phạm tội nhưng không có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc không đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì không phải là tội phạm Thứ ba, tính trái pháp luật hình sự.
Hành vi nguy hiểm cho xã hội chỉ có thể bị coi là tội phạm nếu “được quy định trong Bộ luật hình sự”. Một hành vi nếu không được quy định trong Bộ luật hình sự, dù có gây nguy hiểm đáng ké cho xã hội thì cũng không được coi là tội phạm. Như vậy, tính trái pháp luật hay tính được quy định trong luật hình sự là dấu hiệu đòi hỏi phải có ở hành vi bi coi là tội phạm. Thứ tư, tính phải chịu hình phạt.
Một hành vi trái pháp luật hình sự, vi hành vi đó có tính nguy hiểm cho xã hội nên người thực hiện hành vi ay buộc phải chịu biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước là hình phạt. Nhưng trong thực tế, vẫn có trường hợp người phạm tội không phải chịu hình phạt. Đó là trường hợp sự kiện bất ngờ (điều 20), phòng vệ chính đáng ( Điều 13 22), miễn hình phạt (điều 59). được quy định trong BLHS 2015.
Tội cho vay nặng lãi trong giao dịch là một tội phạm được quy định sớm trong Bộ luật hình sự Việt Nam cụ thể là từ Bộ luật Hình sự năm 1985 (Điều 171), sau đó tiếp tục được ghi nhận tại Bộ Luật hình sự năm 1999 (Điều 163). Trong quá trình áp dụng pháp luật, nhận thấy được những khó khăn khi giải quyết loại tội phạm này nên đã được sửa chữa, bồ sung tại Bộ Luật Hình sự năm 2015. Bởi lẽ, loại tội phạm này xảy ra khá phổ biến, phức tạp và tinh vi tuy nhiên tỷ lệ số lượng xử lý hình sự lại không cao. Tội cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự được quy định tại điều 163 Bộ luật Hình sự 1999 như sau: “cho vay với mức lãi suất cao hơn lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chuyên bóc lột”.
Quy định này đã được thay đôi trong Bộ luật hình sự 2015 tại điều 201 như sau: “Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000 đồng đến dưới 100. Như vậy, có thé thấy quy định về loại tội này đã được cụ thê hoá hơn trong phạm vi pháp luật áp dụng là “pháp luật” sang “Bộ luật dân sự”. Ngoài ra, còn thay đổi một trong những yếu tố quan trọng trong việc định tội từ định tính “có tính chuyên bóc lột” - rất khó chứng minh trên thực tế sang định lượng “thu lợi bất chính từ 30.000 đồng đến dưới 100. Sự thay đổi mang tính rõ ràng, cụ thé này đã giải quyết những đối tượng tinh vi dé xử lý trước pháp luật.
Từ những phân tích trên, tác giả xin đưa ra khái niệm về tội cho vay lãi nặng dưới góc nhìn cá nhân như sau: “Tôi cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự được xác định bằng hành vi của người du năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi nhất định thực hiện cho chủ thể khác vay số tiễn với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000 đông đến dưới 100.