Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TÙ CÓ THỜI HẠN ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI 1. Một số vấn đề lý luận về quyết định hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 1. Khái niệm quyết định hình phạt Xét theo khái niệm của từ điển Tiếng Việt thì “quyết định” là việc lựa chọn giữa nhiều khả năng khác nhau sau khi có sự cân nhắc để chọn ra phương án phù hợp nhất. Do đó, có thể thấy, quyết định hình phạt cũng là sự lựa chọn của Hội đồng xét xử (Toà án) để xác định hình phạt và mức hình phạt cụ thể đối với người phạm tội.
Theo khoa học pháp lý và quan điểm của các nhà nghiên cứu, việc quyết định hình phạt là: Quyết định hình phạt là việc Toà án nhân danh Nhà nước lựa chọn biện pháp trách nhiệm hình sự cụ thể trong phạm vi luật hình sự quy định để áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội [1]. Theo nghĩa hẹp nhất, quyết định hình phạt được hiểu là việc Tòa án lựa chọn một loại hình phạt chính ở một mức độ cụ thể, đồng thời lựa chọn áp dụng hoặc không áp dụng một (hoặc một số) hình phạt bổ sung áp dụng cho người phạm tội đang xét xử. Theo nghĩa rộng hơn, quyết định hình phạt còn bao gồm cả việc lựa chọn áp dụng biện pháp tư pháp, biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện (án treo) và biện pháp miễn hình phạt khi có đủ điều kiện áp dụng. Theo nghĩa rộng nhất, quyết định hình phạt được hiểu là việc lựa chọn áp dụng bởi Tòa án tất cả các chế tài hình sự thuộc thẩm quyền, bao gồm trong đó cả biện pháp miễn trách nhiệm hình 9 sự [3].
Quyết định hình phạt là việc lựa chọn loại hình phạt và xác định mức hình phạt để áp dụng đối với người phải chịu trách nhiệm hình sự (Luật Thái An). Từ những khái niệm trên ta thấy, quan điểm của các nhà nghiên cứu, người làm công tác thực tiễn và người tham gia hoạt động tố tụng khác đều nhìn nhận chung về quyết định hình phạt, chính là việc Toà án lựa chọn hình phạt và mức hình phạt để áp dụng đối với người thực hiện hành vi phạm tội. Căn cứ quyết định hình phạt Tại khoản 1 Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về các căn cứ để quyết định hình phạt, theo đó khi quyết định hình phạt Toà án cần đảm bảo các căn cứ sau: - Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự. - Căn cứ và tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.
- Nhân thân của người phạm tội. - Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được cụ thể trong Bộ luật Hình sự (quy định tại Điều 51, 52). Như vậy, khi xét xử người phạm tội, Toà án cần tuân thủ các căn cứ đã được nêu tại khoản 1 Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để xem xét, đánh giá toàn diện và đưa ra loại hình phạt, mức hình phạt phù hợp với quy định của pháp luật. - Trước hết, quy định của Bộ luật Hình sự là nền tảng, cơ sở mang tính nguyên tắc.
Tuân thủ quy định của Bộ luật Hình sự là thực hiện nghiêm nguyên tắc pháp chế trong hoạt động xét xử. Khi xem xét quyết định hình phạt, Toà án phải coi các quy định của Bộ luật Hình sự là tiêu chuẩn pháp lý đảm bảo cho việc xét xử đúng người, đúng tội và quyết định hình phạt đúng quy định. Khi xem xét căn cứ của Bộ luật Hình sự không chỉ xem xét các quy định ở Phần chung mà phải xem xét tổng thể, đối chiếu với các quy định ở 10 Phần các tội phạm cụ thể thì mới đánh giá được sự liên quan trực tiếp dẫn đến việc quyết định hình phạt đúng đối với bị cáo. - Xét về tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm: Khi quyết định hình phạt Toà án cần xem xét, đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.
Ở đây ta xét đến hành vi mang tính ranh giới giữa tội phạm và chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; mức độ của các khung hình phạt khác nhau trong cùng điều luật quy định về một tội phạm hay mức độ, tính nguy hiểm trong cùng nhóm tội phạm. Khi Toà án xem xét, đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cần đánh giá ở nhiều khía cạnh khác nhau như: thủ đoạn, công cụ, phương tiện, phương pháp của tội phạm…hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, mức độ đe doạ gây thiệt hại cho xã hội của hành vi phạm tội, lỗi của người phạm tội như thế nào. Bên cạnh đó cần xét đến nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh phạm tội, nhân thân của người phạm tội. - Xem xét về nhân thân người phạm tội: Bộ luật Hình sự quy định một trong những căn cứ để quyết định hình phạt là nhân thân người phạm.
Ở đây, khi nói đến nhân thân người phạm tội là mục đích cá nhân hoá, cá thể hoá hình phạt đối với từng con người cụ thể khi thực hiện hành vi phạm tội. Khi quyết định hình phạt, Toà án phải căn cứ vào nhân thân của người phạm tội để lựa chọn loại hình phạt, mức hình phạt sao cho phù hợp và khả thi, thể hiện tính giáo dục, răn đe, trừng trị và cải tạo người phạm tội trở thành công dân có ích. - Căn cứ cuối cùng để quyết định hình phạt là căn cứ và các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Phần chung của Bộ luật Hình sự. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được cụ thể hoá tại Điều 51, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được luật hoá tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Khi quyết định hình phạt, ngoài các căn cứ được phân tích ở phần trên, Toà án cần xem xét toàn diện các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự của người phạm tội để cụ thể hoá mức hình phạt 11 phù hợp với đặc điểm của họ. Đây cũng là một trong những căn cứ thể hiện tính nhân đạo, khuyến khích và tạo cơ hội cho người phạm tội có điều kiện sửa chữa sai lầm trở thành người có ích cho gia đình và xã hội. Khái niệm, đặc điểm quyết định hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội 1. Người dưới 18 tuổi phạm tội Thuật ngữ “người dưới 18 tuổi phạm tội” được sử dụng trong quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 thay thế cho thuật ngữ “người chưa thành niên phạm tội” đã được quy định trong các văn bản pháp lý trước đó.
Hiện nay, đã có nhiều nghiên cứu khác nhau về người dưới 18 tuổi phạm tội và chỉ ra những đặc điểm mang tính chất tương đồng, theo đó: Người dưới 18 tuổi phạm tội là người từ đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi có năng lực trách nhiệm hình sự đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm [1]. Người dưới 18 tuổi phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm [10]. Người dưới 18 tuổi phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi tại thời điểm họ thực hiện hành vi phạm tội, có năng lực trách nhiệm hình sự chưa đầy đủ do hạn chế về đặc điểm tâm sinh lý, có lỗi trong việc thực hiện hành vi trái pháp luật hình sự [2]. Theo giáo trình Luật hình sự Việt Nam phần chung của Đại học Luật, Đại học Huế do tiến sĩ Nguyễn Ngọc Kiện chủ biên xác định người dưới 18 tuổi và người chưa thành niên là khái niệm tương đồng, do đó định nghĩa“Người chưa thành niên phạm tội bao gồm những người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong luật hình sự là tội phạm” [20].
12 So sánh, đối chiếu với các quy định của quốc tế về trẻ em ta thấy: Điều 1 Công ước quốc tế về Quyền trể em của Đại hội đồng Liên hợp quốc (United Nations Convention on the Rights of the Child) thông qua ngày 20/11/1999 ghi nhận: “Trong phạm vi công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi trừ trường hợp pháp luật áp dụng đối với trẻ em có quy định về tuổi thành niên sớm hơn”. Tại Quy tắc 2.2 mục a Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về áp dụng pháp luật với người chưa thành niên hay Quy tắc Bắc Kinh ngày 29/11/1985 qua các quy định cũng thừa nhận: “Người chưa thành niên là trẻ em hay người ít tuổi tuỳ theo từng hệ thống pháp luật cụ thể bị xét xử vì phạm pháp theo một phương thức khác với việc xét xử người lớn”. Từ những nghiên cứu, quan điểm, nhận định nêu trên ta có thể rút ra những đặc điểm của khái niệm người dưới 18 tuổi phạm tội sau đây: - Người có hành vi phạm tội được quy định trong luật hình sự: Người phạm tội nói chung và người dưới 18 tuổi phạm tội nói riêng đều phải là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm. Pháp luật không xem xét xử lý và không thể xử lý đối với những người có hành vi mặc dù nguy hiểm cho xã hội nhưng chưa được luật hoá (Bộ luật Hình sự chưa có quy định), điều này phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự…”.
Đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, Bộ luật Hình sự Việt Nam hiện hành quy định thành chương riêng, cụ thể hoá chính sách hình sự của Nhà nước ta đối với đối tượng đặc biệt này. Theo đó, người dưới 18 tuổi phạm tội có những quy định đặc thù để áp dụng cho phù hợp với lứa tuổi, điều kiện phát triển tâm sinh lý, thể chất của chủ thể tội phạm đang trong giai đoạn phát triển chưa hoàn thiện này.