CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI TRONG TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ KÍCH ĐỘNG MẠNH 1. Khái niệm về tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh và ý nghĩa của việc quy định tội phạm này trong Bộ luật Hình sự năm 2015. Khái niệm về tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh. Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là một trong những trường hợp đặc biệt của tội giết người, đây là trường hợp giết người có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội có tình tiết làm giảm nhẹ.
Tội này có những biểu hiện cơ bản như tội giết người. Vì vậy, để hiểu rõ khái niệm của “tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” thì trước hết chúng ta tìm hiểu về khái niệm “tội giết người”. Tại Điều 123 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định tội giết người nhưng không có mô tả các dấu hiệu cụ thể, vì vậy trên thực tế sẽ có nhiều cách hiểu, cũng như nhiều định nghĩa khác nhau về tội danh này. Các nước theo xu hướng định nghĩa trực tiếp tội giết người trong BLHS nhưng mỗi nước lại có các cách định nghĩa khác nhau.
Luật Hình sự Liên bang Nga được quốc gia thông qua năm 1996, sửa đổi bổ sung năm 1998 quy định tại Điều 105: “Giết người, nghĩa là cố ý làm chết người khác…”. Trong BLHS Thụy Điển được ban hành năm 1962, được gọi là Luật hình sự chung, định nghĩa tội giết người được mô tả tại Điều 1 Chương 3 là “… tước đoạt sinh mạng người khác…”. Bộ Luật hình sự Trung Quốc năm 1997, tại Điều 232 tội giết người được định nghĩa là “hành vi cố ý giết người khác”. Bộ luật Bang California năm 1998 tại Điều 187 tội giết người được định nghĩa là “là hành vi cố ý giết người khác hoặc giết bào thai 7 một cách hiểm độc và bất hợp pháp”.Tại Việt Nam, tuy không định nghĩa trực tiếp tội giết người trong BLHS, nhưng trong khoa học pháp lý hình sự cũng có nhiều cách định nghĩa khác nhau.
Giáo trình Luật hình sự của trường Đại học Luật Hà Nội định nghĩa “Tội giết người là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của người khác”[14]. Theo giáo trình Luật hình sự Việt Nam (phần các tội phạm) của Trường Đại học Huế định nghĩa “Tội giết người được hiểu là hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác bằng mọi hình thức”[11]. Có quan điểm cho rằng: “Tội giết người là hành vi trái pháp luật của người đủ năng lực trách nhiệm hình sự cố ý tước bỏ quyền sống của người khác”[15]. Tuy nhiên cũng có quan điểm cho rằng, theo bản chuyên đề tổng kết thực tiễn xét xử loại tội giết người ban hành kèm theo Công Văn số 453-HS2 ngày 10/08/1970 của Tòa án nhân dân tối cao thì: “Tội giết người là hành vi cố ý tước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật”[9].
Các quan điểm trên đều tồn tại điểm hạn chế khi chưa mô tả đầy đủ các dấu hiệu đặc trưng của tội giết người. Do vậy, để khắc phục những hạn chế trên, tác giả đưa ra khái niệm tội giết người như sau: “Tội giết người là hành vi cố ý tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác do người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện”. Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh được quy định tại Điều 125 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như sau:“1. Người nào giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.Phạm tội đối với 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.” Theo quy định tại Điều 125 thì người phạm tội thực hiện hành vi giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh.
Đây là trạng thái mà tâm lý người phạm tội bị hạn chế tức thời ở mức độc cao do không kiềm chế, kiểm soát được cảm xúc, tình cảm dẫn đến hạn chế khả năng suy nghĩ và điều khiển hành vi. Tức 8 là, bình thường họ nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm, nhận thức được hậu quả nguy hiểm đôi với xã hội và nhận thức được điều đó là trái pháp luật, có thể phải chịu TNHS, vì thế học kiểm soát được hành vi của mình. Tuy nhiên, khi bị kích động mạnh về tinh thần, họ bị hạn chế về hoạt động ý chí và lý trí, không còn sáng suốt dẫn đến khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của họ bị giảm. Có trường hợp, khi trong trạng thái này, họ vẫn có thể nhận thức được hành vi của mình có nguy hiểm cho xã hội, nhận thức được hậu quả nhưng họ lại không quan tâm đến.
Trong BLHS đã được hướng dẫn lần đầu tiên tại Điểm b Mục 1 Chương 2 Nghị quyết số 04/HĐTL/NQ ngày 29/11/1986 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần các tội phạm BLHS, theo đó: “Tình trạng tinh thần bị kích động là tình trạng người phạm tội không hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế được hành vi phạm tội của mình. Nói chung, sự kích động mạnh đó phải là tức thời do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân gây nên sự phản ứng dẫn tới hành vi giết người. Nhưng cá biệt có trường hợp do hành vi trái pháp luật của nạn nhân có tính chất đè nén, áp bức tương đối nặng nề, lặp đi lặp lại, sự kích động đó đã âm ỷ, kéo dài, đến thời điểm nào đó hành vi trái pháp luật của nạn nhân lại tiếp diễn làm cho người bị kích động không tự kiềm chế được; nếu tách riêng sự kích động mới này thì không coi là kích động mạnh, nhưng nếu xét cả quá trình phát triển của sự việc, thì lại được coi là mạnh hoặc rất mạnh”.[5] Như vậy, người bị kích động mạnh về tinh thần được hiểu là người bị ức chế về tâm lý, không còn nhận thức được đầy đủ về hành vi của mình như lúc bình thường, nhưng chưa mất hẳn nhận thức. Vào lúc đó, họ bị mất khả năng tự chủ và không thấy được hết những tính chất và mức độ nguy hiểm đối với xã hội về hành vi của mình.
Trạng thái của họ lúc đó giống như người điên mất trí. Trạng thái này chỉ xảy ra trong phút chốc, sau đó lại trở lại trạng thái bình thường. 9 Từ những phân tích ở trên có thể đưa ta khái niệm về tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh như sau: Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là hành vi cố ý trước đoạt tính mạng của người khác một cách trái pháp luật khác do người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đang trong trạng thái người phạm tội không hoàn toàn tự làm chủ, tự kiểm soát được bản thân do hành vi trái pháp luật nghiêm trong của nạn nhân đối với họ hoặc đối với người thân thích của họ”. Ý nghĩa của việc quy định tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh trong Bộ luật Hình sự năm 2015 Từ khác niệm nêu trên, ta thấy rằng giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là một trong những trường hợp đặc biệt của tội giết người.
Trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là tình tiết làm giảm nhẹ đáng kể mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Do vậy, tình tiết này có thể được quy định là tình tiết định khung hình phạt giảm nhẹ hoặc có thể là tình tiết định tội cho tội nhẹ hơn so với tội của trường hợp giết người thông thường BLHS năm 1985 quy định tình trạng tinh thần bị kích động mạnh là trường hợp định khung hình phạt giảm nhẹ của “tội giết người”. Trong khi đó, ở BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015, trường hợp này được tách ra thành tội danh riêng, đó là “tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” Theo tác giả, việc tách giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh ra thành một tội riêng là hợp lý, giúp cho người thi hành tố tụng dễ dàng hơn trong việc định tội danh và quyết định hình phạt. Khi tách thành một tội riêng, ta có thể xử lý tội phạm và đưa ra những án phạt chính xác hơn.
Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh cũng có trường hợp tăng nặng định khung hình phạt (giết từ 02 người trở lên). Do vậy, nếu vẫn để tội này là trường hợp giảm nhẹ của tội giết người thì tình tiết tăng nặng nêu trên rất khó được quy định. Ngoài ra, thực tiễn xử lý tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh cho thấy, tội phạm này có những biểu hiện cơ bản như tội giết người nhưng vẫn có những dấu 10 hiệu đặc trưng riêng biệt. Vì lẽ đó, để việc nhận thức và áp dụng pháp luật được thống nhất, tránh xử lý tùy tiện dẫn đến những trường hợp oan sai, bỏ lọt tội phạm, việc quy định các dấu hiệu riêng thuộc về CTTP của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là điều cần thiết.
Việc quy định tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh thành tội riêng trong BLHS năm 2015 còn mang ý nghĩa tạo cơ sở pháp lý cho văn răn đe và đấu tranh phòng chống tội phạm trong thực tiễn. Kể từ khi đất nước ta bước vào công cuộc đổi mới năm 1986, chính sách pháp luật của Đảng và nhà nước ngày một được hoàn thiện hơn, đảm bảo duy trì và bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Mặc dù vậy, song song với sự phát triển của nền kinh tế là việc xảy ra những tiêu cực trong xã hội, trong đó có vấn đề về kinh tế, những tệ nạn xã hội… dẫn đến tình hình tội phạm ngày càng có xu hướng gia tăng và diễn biến phức tạp. Trong những năm gần đây, hành vi giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh mặc dù không phổ biến nhưng cũng vẫn xảy ra, có dấu hiệu tăng về số lượng, gây dư luận xã hội, bất bình trong nhân dân.