Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách thuế đối với phát triển DNNVV Chương 2: Thực trạng chính sách thuế đối với phát triển DNNVV ở Việt Nam Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách thuế đối với DNNVV ở Việt Nam từ nay đến năm 2020 5 z Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH THUẾ ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Khái quát chung về DNNVV 1. Khái niệm DNNVV. Nói đến DNNVV là nói đến một tập hợp các doanh nghiệp được phân loại dựa trên độ lớn hay quy mô của doanh nghiệp.
Việc phân loại DNNVV phụ thuộc vào loại tiêu thức sử dụng và giới hạn của từng tiêu thức. Điểm khác biệt cơ bản trong khái niệm DNNVV giữa các nước chính là việc lựa chọn các tiêu thức phân loại và lượng hoá các tiêu thức ấy thông qua những tiêu chuẩn cụ thể. Mặc dù có những khác biệt nhất định giữa các nước trong lựa chọn và giới hạn các tiêu thức phân loại DNNVV, song khái niệm chung nhất về DNNVV có thể được hiểu: DNNVV là những cơ sở SXKD có tư cách pháp nhân, kinh doanh vì mục đích lợi nhuận, có quy mô doanh nghiệp trong những năm giới hạn nhất định tính theo tiêu thức vốn, lao động, doanh thu, giá trị gia tăng thu được trong từng thời kỳ theo quy định của từng quốc gia. Qua nghiên cứu các phân loại doanh nghiệp của nhiều nước trên thế giới có thể thấy một số tiêu thức hay được sử dụng trong phân loại gồm: vốn sản xuất, số lao động thường xuyên, doanh số, lợi nhuận, giá trị gia tăng.
Tiêu thức về vốn sản xuất và số lao động phản ánh quy mô sử dụng các yếu tố đầu vào; tiêu thức doanh số, lợi nhuận và giá trị gia tăng phản ánh quy mô theo kết quả đầu ra. Như vậy, để phân loại DNNVV có thể dùng các yếu tố đầu vào hoặc các yếu tố đầu ra của doanh nghiệp, hoặc kết hợp cả hai loại yếu tố đó. Mặt khác, độ lớn của các tiêu chuẩn giới hạn phụ thuộc vào trình độ, hoàn 6 z cảnh, điều kiện phát triển kinh tế, định hướng chính sách và khả năng trợ giúp đối với DNNVV của mỗi nước. Chính vì thế, khái niệm DNNVV mang tính tương đối, nó thay đổi theo từng giai đoạn phát triển KTXH nhất định của từng quốc gia.
Ở Việt Nam, trước tháng 6/1998 sử dụng 2 tiêu thức chủ yếu là lao động và vốn, song do không có quy định chính thức của Chính phủ nên việc lượng hoá các tiêu thức tuỳ thuộc quy định của từng cơ quan chức năng và không có sự thống nhất. Theo quy định tại công văn số 681/CP-KTN ngày 22/06/1998 của Chính phủ thì các doanh nghiệp có vốn điều lệ dưới 5 tỷ VND và có số lao động dưới 200 thuộc DNNVV. Theo quy định tại Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ, khái niệm DNNVV được hiểu như sau: DNNVV là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập; đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người. Căn cứ vào tình hình KTXH cụ thể của ngành, của địa phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai tiêu chí vốn và lao động hoặc một trong hai tiêu chí nói trên.
Đến năm 2009, theo quy định tại Nghị định số 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNNVV, khái niệm DNNVV được định nghĩa như sau: DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp; siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong Bảng cân đối kế toán của DN) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên). Đối với ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản, ngành công nghiệp và xây dựng: doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lao động từ 10 trở xuống; doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có tổng nguồn vốn từ 20 tỷ đồng trở xuống và có số lao động từ 10 đến 200 người; doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp có 7 z tổng nguồn vốn từ 20 đến 100 tỷ đồng và số lao động từ trên 200 người đến 300 người. Đối với ngành thương mại và dịch vụ: doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lao động từ 10 trở xuống; doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có tổng nguồn vốn từ 10 tỷ đồng trở xuống và có số lao động từ 10 đến 50 người; doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp có tổng nguồn vốn từ 10 đến 50 tỷ đồng và số lao động từ trên 50 người đến 100 người. Đặc trưng của DNNVV Thứ nhất, DNNVV có quy mô vốn thấp, lao động ít và thường gắn với công nghệ thủ công, lạc hậu.
Đặc trưng cơ bản nhất của DNNVV là quy mô vốn SXKD nhỏ. Đặc trưng này quyết định những đặc trưng khác của DNNVV. Tất cả các quốc gia trên thế giới dù phân chia DNNVV đều có đặc trưng này. Thứ hai, DNNVV có tính linh hoạt cao, dễ thích ứng với các thay đổi của thị trường.Với ưu thế quy mô nhỏ, gọn, năng động, dễ quản lý, các DNNVV dễ cơ động, dễ thích ứng với sự thay đổi của nhu cầu thị trường về khả năng thay đổi phương án SXKD, thay đổi mặt hàng nhanh, phù hợp với xu hướng thay đổi tập quán tiêu dùng của dân cư.
Mặt khác, DNNVV thường xuyên có quan hệ mật thiết với người tiêu dùng, do đó có khả năng nắm bắt thường xuyên và khá chính xác nhu cầu của người tiêu dùng. Thứ ba, ngành nghề kinh doanh chủ yếu tập trung ở những lĩnh vực đòi hỏi vốn ít, thời gian chu chuyển vốn nhanh như: thương mại, du lịch; công nghiệp chế biến; xây dựng; vận chuyển hàng hoá, hành khách,…Thị trường thường phản ứng ít quyết liệt hơn, thậm chí không có phản ứng trước những thay đổi chiến lược của DNNVV do tác động của những thay đổi này đến thị trường là không đáng kể.Vai trò của DNNVV trong nền kinh tế Thứ nhất, DNNVV đóng vai trò quan trọng vào sự phát triển kinh tế và ổn định xã hội của mỗi nước. Phát triển DNNVV góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế. Đặc biệt đối với những nước có trình độ phát triển kinh tế thấp như Việt Nam thì giá trị gia tăng hoặc GDP do các DNNVV tạo ra thường chiếm tỷ trọng lớn, đảm bảo thực hiện những chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế.
Ở các nước Châu Âu, DNNVV tạo ra khoảng 65% tổng doanh thu trong nền kinh tế; ở các nền kinh tế APEC, DNNVV đóng góp 35% tổng doanh số xuất khẩu (chiếm khoảng 12% GDP của APEC). DNNVV cũng đã và đang góp phần quan trọng vào thực hiện thành công chiến lược toàn diện về tăng trưởng kinh tế và xoá đói giảm nghèo. Thứ hai, DNNVV có vai trò quan trọng trong tạo công ăn việc làm, thất nghiệp, góp phần ổn định chính trị xã hội. Ở hầu hết các nước, lao động làm việc trong các DNNVV thường chiếm trên 60% tổng lao động cả nước.
Ở các nước Châu Âu, DNNVV thu hút khoảng 66% tổng lao động xã hội; ở các nền kinh tế APEC, DNNVV thu hút khoảng 80% tổng lao động xã hội. Thứ ba, DNNVV là lực lượng quan trọng đáp ứng nhu cầu về hàng tiêu dùng cho xã hội, sản xuất các sản phẩm công nghiệp, thủ công mỹ nghệ và duy trì, phát huy ngành nghề truyền thống. Các DNNVV lớn về số lượng và năng động trong SXKD nên đã tạo ra một khối lượng hàng hoá dịch vụ đáng kể, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng, phong phú và độc đáo của người tiêu dùng. Thứ tư, DNNVV tạo nguồn thu nhập ổn định và thường xuyên cho bộ phận lớn dân cư, góp phần giảm bớt chênh lệch về thu nhập và mức sống giữa các bộ phận dân cư, giữa các vùng, các địa phương, đồng thời tạo ra sự phát triển tương đối đồng đều giữa các vùng, miền trong mỗi quốc gia.
9 z Thứ năm, DNNVV góp phần quan trọng trong khai thác, phát huy các nguồn lực và tiềm năng còn tiềm ẩn trong xã hội.Với số lượng, phân bố rộng khắp các địa bàn nên DNNVV đặc biệt có lợi thế trong huy động và sử dụng các nguồn tài chính phân tán, nhỏ lẻ trong dân cư. Thứ sáu, DNNVV góp phần hình thành và xây dựng đội ngũ các nhà quản trị DN tài năng. Các nhà quản trị DNNVV luôn phải phấn đấu vươn lên để khắc phục những hạn chế vốn có của DNNVV, kết quả của quá trình phấn đấu đó đã hình thành được đội ngũ những nhà quản trị DN tài năng. Thứ bảy, DNNVV góp phần tạo ra môi trường cạnh tranh toàn diện, thúc đẩy SXKD hiệu quả hơn.
Với sự tham gia đông đảo của DNNVV vào quá trình sản xuất, cung ứng sản phẩm hàng hoá trên thị trường, số lượng và chủng loại hàng hoá tăng lên nhanh chóng.Trong quá trình SXKD, các DNNVV một mặt phải cạnh tranh với nhau, đồng thời phải cạnh tranh với các DN lớn để đáp ứng nhu cầu thị trường về số lượng, chủng loại, mẫu mã và hiệu quả của nền kinh tế ngày càng được nâng cao. Xuất phát từ tầm quan trọng của DNNVV trong tạo công ăn việc làm, phát triển kinh tế và góp phần ổn định chính trị xã hội,… nên Chính phủ các nước luôn quan tâm phát triển DNNVV ở tất cả các ngành nghề, lĩnh vực và vùng, miền của mỗi nước. Chính sách thuế và vai trò đối với phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm chính sách thuế Chính sách thuế là chính sách của Nhà nước về sử dụng các công cụ thuế bao gồm hệ thống các quan điểm, mục tiêu, chủ trương và giải pháp về thuế của Nhà nước phù hợp với đặc điểm của đất nước trong từng thời kỳ nhằm bồi dưỡng, khai thác, huy động và sử dụng các nguồn tài chính đa dạng 10 z phục vụ có hiệu quả cho việc thực hiện các kế hoạch và chiến lược phát triển KTXH của quốc gia trong thời kỳ tương ứng.
Ở đây, nội hàm của chính sách thuế là chính sách về sử dụng các công cụ thuế, là hệ thống các quan điểm, mục tiêu, chủ trương của Nhà nước về sử dụng các công cụ thuế và bao gồm cả các giải pháp thực hiện để đạt được mục tiêu đó.