CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 1. Khái quát về thuế thu nhập doanh nghiệp 1. Khái niệm và đặc điểm của thuế thu nhập doanh nghiệp 1. Khái niệm Thuế là khoản thu do Nhà nước đặt ra để buộc các cá nhân, tổ chức trong những điều kiện nhất định phải thực hiện nghĩa vụ nộp thuế nh¿m thiết lập một nguồn tài chính để NN thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình.
[2, trg21] Thu nhập là tổng giá trị của của cải, tài sản và những lợi ích xác định được dưới hình thức tiền tệ mà một cá nhân hoặc tổ chức hoặc quốc gia nhận được từ lao động, đầu tư kinh doanh hoặc từ các nguồn khác trong một khoảng thời gian nhất định. [6, trg6] Thuế thu nhập là tên gọi để chỉ những sắc thuế lấy thu nhập làm đối tượng tính thuế. Thuế thu nhập là một loại thuế quan trọng được áp dụng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới. [2, trg124] Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) là thuế tính trên thu nhập chịu thuế của các doanh nghiệp trong kỳ tính thuế.
Đặc điểm Ngoài những đặc điểm chung của thuế là có tính cưỡng chế và tính pháp lý cao, là khoản đóng góp không mang tính hoàn trả trực tiếp, thuế TNDN còn có một số đặc điểm riêng. Cụ thể như sau: 6 Thứ nhất: thuế TNDN là loại thuế trực thu. Tính chất trực thu của thuế thể hiện ở chỗ thuế được tính trực tiếp trên TN. Đối tượng nộp thuế (theo luật định) và đối tượng chịu thuế (xét về phương diện kinh tế) là đồng nhất.
Trong trường hợp này gánh nặng thuế khó có thể chuyển cho chủ thể khác. Thứ hai: Thuế TNDN là loại thuế điều tiết trực tiếp vào TN của các DN nên thuế TNDN phụ thhuoocj vào kết quả kinh doanh của các DN. Chỉ khi cở sở kinh doanh có lợi nhuận mới phải nộp thuế. Thứ ba: Thuế TNDN chỉ đánh vào phần TN còn lại sau khi đã trừ đi chi phí liên quan để tạo ra TN đó (còn gọi là thu nhập chịu thuế).
Thứ tư: Thuế TNDN áp dụng mức thuế suất thống nhất. Khác với thuế TNCN, thuế suất thuế TNDN thường được quy định một tỷ lệ nhất định và áp dụng cho mọi đối tượng nộp thuế. Việc thực hiện mục tiêu công b¿ng được thông qua các hình thức ưu đãi, miễn giảm thuế. Điều đó vừa tạo ra động cơ khuyến khích các cở sở kinh doanh đầu tư phát triển sản xuất, vừa đảm bảo công b¿ng giữa các đối tượng nộp thuế.
Vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp - Thuế TNDN là khoản thu quan trọng của NSNN. Thuế TNDN chiếm một tỷ trọng lớn trong cơ cấu thu NSNN. Cùng với xu hướng tăng trưởng kinh tế, quy mô của các hoạt động kinh tế ngày càng được mở rộng, hiệu quả kinh doanh ngày càng cao sẽ tạo ra nguồn thu về thuế TNDN ngày càng lớn cho NSNN. - Thuế TNDN là công cụ quan trọng của NN trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế NN ban hành một hệ thống pháp luật về thuế TNDN áp dụng chung cho các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế, tạo sự bình đẳng trong cạnh tranh, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển.
Như vậy, với 7 các DN cùng sản xuất một mặt hàng, cùng giá bán trên thị trường, cơ sở nào càng hạ thấp được giá thành sản phẩm, càng thu được nhiều lợi nhuận thì càng phát triển, và ngược lại thì sẽ dễ dẫn tới bị phá sản. Thông qua việc xác định phạm vi thu thuế và không thu thuế, NN thể hiện sự ưu đãi của mình đối với một số đối tượng trong xã hội không phải nộp thuế hoặc thể hiện sự khuyến khích của NN đối với việc phát triển của một lĩnh vực ở một vùng nào đó. Ngoài việc quy định thuế suất chung cho các cơ sở sản xuất kinh doanh, NN cũng đưa ra các thuế suất ưu đãi để áp dụng đối với từng ngành nghề, mặt hàng, lĩnh vực thể hiện mức độ khuyến khích hay không của NN đối với những ngành nghề, mặt hàng, lĩnh vực đó trong nền kinh tế. Không chỉ khuyến khích đầu tư b¿ng việc định ra một thuế suất hợp lý, mà thuế TNDN còn được sử dụng là một biện pháp khuyến khích bỏ vốn đầu tư vào các ngành nghề, mặt hàng, các vùng mà NN cần tập trung khuyến khích đẩy mạnh sản xuất, khai thác tiềm năng về vốn trong dân cư và của các nhà đầu tư nước ngoài, hỗ trợ các DN khắc phục khó khăn, rủi ro để phát triển sản xuất b¿ng việc sử dụng biện pháp miễn, giảm thuế TNDN theo các mức độ khác nhau.
- Thuế TNDN là công cụ quan trọng để NN thực hiện chức năng tái phân phối thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội. Một trong những mục tiêu của thuế TNDN là điều tiết TN, đảm bảo sự công b¿ng trong phân phối TN xã hội. Thuế TNDN được áp dụng cho các loại hình DN thuộc các thành phần kinh tế, không những đảm bảo bình đẳng về chiều ngang mà còn cả công b¿ng về chiều dọc. Về chiều ngang, bất kể một DN nào, kinh doanh bất cứ hình thức nào, nếu có thu nhập chịu thuế thì phải nộp thuế TNDN.
Về chiều dọc, cùng một ngành nghề không phân biệt quy mô kinh doanh, nếu có thu 8 nhập chịu thuế thì phải nộp thuế TNDN. Với mức thuế suất thống nhất, DN nào có TN cao thì phải nộp thuế nhiều hơn (theo số tuyệt đối) DN có TN thấp. Khái quát về pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp 1. Khái niệm pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp Pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự do NN đặt ra hoặc thừa nhận thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và được NN đảm bảo thực hiện, nh¿m thiết lập, duy trì một trật tự xã hội nhất định.
[9, trg85] Pháp luật thuế là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thu, nộp thuế giữa cơ quan NN có thẩm quyền và người nộp thuế nh¿m hình thành nguồn thu NSNN. [2, trg121] Pháp luật thuế TNDN là hệ thống các quy phạm pháp luật do NN đặt ra để điều chỉnh quan hệ phát sinh trong quá trình thu, nộp thuế TNDN. Nội dung chủ yếu của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp 1. Quy định về đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế Đối tượng nộp thuế theo quy định của pháp luật có thể là các pháp nhân hoặc cá nhân có các khoản TN thuộc diện chịu thuế phát sinh.
Các pháp nhân và cá nhân phải được xác định là đối tượng cư trú theo quy định của pháp luật. Do vậy phải quy định rõ thế nào là đối tượng cư trú và không cư trú làm cơ sở để xác định đối tượng nộp thuế. Đồng thời pháp luật cũng phải quy định rõ các khoản TN thuộc diện chịu thuế và không chịu thuế. Thuế TNDN là loại thuế trực thu.
Cho nên đối tượng nộp thuế (theo luật định) và đối tượng chịu thuế (xét về phương diện kinh tế) là đồng nhất. Quy định về thu nhập tính thuế TNCT là phần TN làm căn cứ cho việc xác định TNTT và là một nhân tố quan trọng trong cơ sở thuế được quy định b¿ng pháp luật để xác định TN và thuế suất đối với TN đó. NN không thể đánh thuế trên toàn bộ TN (tổng TN) được tao ra trong kỳ tính thuế của người nộp thuế mà phải trừ đi những CP phát sinh tạo ra những TN đó, tùy theo chế độ của pháp luật về ưu đãi thuế, phần còn lại mới xác định là TNCT và TNTT. Quy định về thuế suất và phương pháp tính thuế Thuế suất Thuế suất thuế TNDN được xác định b¿ng tỷ lệ % trên TNTT.
Thuế suất có thể dược quy định các mức khác nhau phụ thuộc vào đối tượng DN. Thông thường, các nước áp dụng một mức thuế suất phổ thông đối với các khoản TN sau khi đã giảm trừ CP, đồng thời áp dụng hệ thống thuế suất ưu đãi đối với các chủ thể có TN nhận được từ các hoạt động n¿m trong phạm vi cần khuyến khích của NN. Phương pháp tình thuế Thuế Thu Thuế TNDN phải = nhập tính x suất thuế nộp thuế TNDN 1. Quy định về miễn, giảm thuế Khi áp dụng chính sách miễn, giảm thuế trong một sắc thuế nào đó cũng đồng nghĩa với sự giảm số thu từ sắc thuế đó vào NSNN, đồng thời cũng gây ra những ngoại lệ cho công tác quản lý.
Về phương diện pháp lý thì miễn, giảm thuế ảnh hưởng tới sự công b¿ng giữa các chủ thể thực hiện nghĩa vụ 10 thuế. Tuy nhiên, việc thiết kế thuế suất trong một sắc thuế cũng bị chi phối nhiều bởi yếu tố kinh tế, xã hội. Trên góc độ kinh tế thì miễn, giảm thuế TNDN phản ánh nguyên tắc công b¿ng theo chiều dọc. Miễn giảm thuế TNDN thể hiện ở các hình thức sau: Thứ nhất, áp dụng mức thuế suất thấp hơn mức thuế suất phổ thông trong một thời hạn nhất định kể từ khi chủ thể có TNCT.
Thứ hai, giảm thuế suất thuế TNDN so với mức thuế suất phổ thông trong những thòi hạn nhất định cho những khoản TN nhận được từ hoạt động đầu tư vào ngành nghề hoặc khu vực nhất định theo quy định cửa pháp luật. Thứ ba, miễn thuế đối với những khoản TN nhất định kể cả là TN từ kinh doanh hay TN từ các nguồn khác. Thứ tư, giảm một phần hoặc toàn bộ số thuế phải nộp vì các lý do kể trên. Quy định về thủ tục thu, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp Nộp thuế TNDN là nghĩa vụ tiếp theo nghĩa vụ kê khai thuế TNDN của người nộp thuế.
Người nộp thuế chỉ được coi là hoàn thành nghĩa vụ thuế với NN sau khi đã kê khai và nộp thuế đúng pháp luật. Nộp thuế là việc người nộp thuế nộp tiền vào NSNN để thực hiện nghĩa vụ thuế bao gồm các hình thức như nộp tiền mặt, chuyển khoản, bù trừ với số thuế nộp thừa. Việc nộp thuế có thể thực hiện theo nhiều hình thức khác nhau như: người nộp thuế trực tiếp nộp cho cán bộ chịu trách nhiệm thu thuế tại trụ sở của mình; người nộp thuế tự nộp thuế tại trụ sở của cơ quan chịu trách nhiệm thu thuế, có thể b¿ng tiền mặt, có thể nộp thuế thông qua ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng. Thông thường, ở các nước, cơ quan thuế chỉ chịu trách 11 nhiệm việc kê khai thuế, tính thuế và nộp thuế.
Cơ quan thu tiền thuế là cơ quan kho bạc hoặc ngân hàng.