Chương 1: Cơ sở khoa học về vấn đề nghiên cứu 1.1 Cơ sở lý thuyết về tuân thủ thuế Theo tài liệu cải cách thuế ở Việt Nam của Ngân hàng thế giới công bố năm 2011, mức độ tuân thủ thuế được định nghĩa là tỷ số giữa số tiền thuế thực thu với số tiền thuế có thể thu được tiềm năng. Để có thể xác định được mức độ tuân thủ thuế thì phải xác định chính xác được số thuế tiềm năng của nền kinh tế có thể thu được. Vấn đề này đã và đang được các nhà nghiên cứu tìm hiểu, tranh luận và chưa có được sự thống nhất thực sự. Theo hướng dẫn thực hành của tổ chức về đo lường mức độ tuân thủ (2001) đã đặt ra câu hỏi: “thế nào là mức độ tuân thủ, đó có phải là sự tuân thủ theo cách diễn giải luật thuế và cách áp dụng luật của cơ quan thuế hay cách hiểu của người nộp thuế và áp dụng trên thực tế hay có thể hiểu theo một góc độ trung lập nào khác”.
Tuân thủ thuế là những hành vi thực thi nghĩa vụ thuế của NNT. Năm 2014 OECD cho rằng, nghĩa vụ thuế bao gồm bốn nghĩa vụ sau: đăng ký thuế; khai thuế kịp thời và nộp các thông tin cần thiết về hồ sơ thuế, báo cáo đầy đủ, chính xác các thông tin (kết hợp lưu giữ hồ sơ) và nộp thuế đúng hạn. Theo Shukla và cộng sự: mức độ tuân thủ thuế của người nộp thuế thường được ước tính dựa trên ba khía cạnh, đó là nộp tờ khai, kê khai và nộp thuế. Tuân thủ thuế về nộp tờ khai của người nộp thuế thể hiện việc nộp tờ khai đúng hạn, chỉ số này được chia thành ba chỉ số: một là tuân thủ trong nộp tờ khai của NNT đã đăng ký; hai là tuân thủ trong việc nộp tờ khai đúng hạn; ba là tuân thủ tổng hợp về nộp tờ khai.
Thứ nhất, tuân thủ trong nộp tờ khai đo lường tỉ lệ giữa số tờ khai được nộp trên tổng số tờ khai DN phải nộp; tờ khai được nộp gồm tờ khai đúng hạn và tờ khai chậm nộp; tổng tờ khai phải nộp bao gồm tờ khai theo tháng/quý và quyết toán năm của tất cả các loại thuế phải nộp theo quy định. Thứ hai, tuân thủ trong việc nộp tờ khai đúng hạn thể hiện qua tỉ lệ giữa số tờ khai nộp đúng hạn trên tổng số tờ khai đã được nộp Cuối cùng, tuân thủ tổng hợp về nộp tờ khai được đo lường bằng tỉ lệ giữa số tờ khai đã nộp đúng hạn trên tổng số tờ khai phải nộp với các quy định thuế hiện hành, một số sắc thuế chỉ phải nộp tờ khai khi phát sinh số thuế phải nộp trong kỳ kê khai. 6 Do vậy, tác giả không thể xác định chính xác số tờ khai DN phải nộp nên tuân thủ về nộp tờ khai được xác định trên chỉ số thứ hai. Tuân thủ về kê khai thuế nói đến việc kê khai trung thực, đầy đủ thu nhập tính thuế, doanh thu và sản lượng liên quan đến thuế trực thu hay thuế gián thu.
Chỉ số này được định nghĩa là tỉ lệ giữa số thu nhập hay doanh thu kê khai với số thu nhập, doanh thu tiềm năng có khả năng thu được. Hiện nay, bộ phận dự báo số thu thuế tiềm năng chưa đầy đủ. Do vậy, không thể ước tính mức độ tuân thủ về kê khai thuế dựa trên tỷ số này. Tuy nhiên, trong các báo cáo về kết quả kiểm tra, thanh tra cơ quan thuế thường đưa ra bốn chỉ tiêu thể hiện hành vi kê khai không chính xác của DN.
Đó là số thuế truy thu; số thuế truy hoàn; số thuế không được hoàn; số tiền thuế phải nộp điều chỉnh.2 Lý luận cơ bản về thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) 1.1 Khái niệm thuế TNDN Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập chịu thuế của cơ sở sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ sau khi đã trừ đi các chi phí liên quan đến việc tạo ra doanh thu và thu nhập chịu thuế của cơ sở sản xuất kinh doanh.2 Vai trò thuế TNDN Thuế TNDN ra đời có vai trò sau: Thứ nhất, Thuế TNDN là nguồn lực quan trọng giúp nhà nước tạo nguồn thu ổn định, vững chắc cho NSNN để đảm bảo số chi. Thứ hai, điều tiết thu nhập của các nhà đầu tư, từ đó góp phần đảm bảo công bằng xã hội; Thứ ba, thuế TNDN góp phần quản lý hoạt động đầu tư, kinh doanh phù hợp theo giai đoạn phát triển của đất nước thông qua việc quy định đối tượng nộp thuế, chịu thuế, đồng thời sử dụng hiệu quả công cụ thuế suất và các chính sách ưu đãi thuế TNDN.3 Nội dung pháp luật thuế TNDN hiện hành Theo luật thuế TNDN số 14/2008/QH12, luật thuế TNDN số 32/2013/QH13 và một số văn bản pháp luật khác về thuế TNDN có một số quy định như sau: 1.1 Đối tượng nộp thuế Người nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có thu nhập chịu thuế theo quy định của Luật thuế TNDN (sau đây gọi là doanh nghiệp), bao gồm: - Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam 7 - Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài (sau đây gọi là doanh nghiệp nước ngoài) có cơ sở thường trú hoặc không có cơ sở thường trú tại Việt Nam - Tổ chức được thành lập theo Luật hợp tác xã - Đơn vị sự nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam - Tổ chức khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh có thu nhập 1.2 Thu nhập chịu thuế Thu nhập chịu thuế bao gồm thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ và thu nhập khác. Trong đó, thu nhập khác bao gồm thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng quyền góp vốn; thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản, chuyển nhượng dự án đầu tư, chuyển nhượng quyền tham gia dự án đầu tư, chuyển nhượng quyền thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản; thu nhập từ quyền sử dụng tài sản, quyền sở hữu tài sản, kể cả thu nhập từ quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật; thu nhập từ chuyển nhượng, cho thuê, thanh lý tài sản, trong đó có các loại giấy tờ có giá; thu nhập từ lãi tiền gửi, cho vay vốn, bán ngoại tệ; khoản thu từ nợ khó đòi đã xoá nay đòi được; khoản thu từ nợ phải trả không xác định được chủ; khoản thu nhập từ kinh doanh của những năm trước bị bỏ sót và các khoản thu nhập khác, kể cả thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh ở ngoài Việt Nam.3 Thu nhập được miễn thuế Một là thu nhập từ trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, sản xuất muối của hợp tác xã; thu nhập của hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; thu nhập của doanh nghiệp từ trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; thu nhập từ hoạt động đánh bắt hải sản. Hai là thu nhập từ việc thực hiện dịch vụ kỹ thuật trực tiếp phục vụ nông nghiệp.
Ba là thu nhập từ việc thực hiện hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, sản phẩm đang trong thời kỳ sản xuất thử nghiệm, sản phẩm làm ra từ công nghệ mới lần đầu áp dụng tại Việt Nam. Bốn là thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp có từ 30% số lao động bình quân trong năm trở lên là người khuyết tật, người sau cai nghiện, người nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) và có số lao động bình quân trong năm từ hai mươi người trở lên, không bao gồm doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính, kinh doanh bất động sản 8 Năm là thu nhập từ hoạt động dạy nghề dành riêng cho người dân tộc thiểu số, người tàn tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, đối tượng tệ nạn xã hội. Sáu là thu nhập được chia từ hoạt động góp vốn, liên doanh, liên kết với doanh nghiệp trong nước, sau khi đã nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của Luật này. Bảy là khoản tài trợ nhận được để sử dụng cho hoạt động giáo dục, nghiên cứu khoa học, văn hoá, nghệ thuật, từ thiện, nhân đạo và hoạt động xã hội khác tại Việt Nam.
Tám là thu nhập từ chuyển nhượng chứng chỉ giảm phát thải (CERs) của doanh nghiệp được cấp chứng chỉ giảm phát thải. Chín là thu nhập từ thực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao của Ngân hàng Phát triển Việt Nam trong hoạt động tín dụng đầu tư phát triển, tín dụng xuất khẩu; thu nhập từ hoạt động tín dụng cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác của Ngân hàng Chính sách xã hội; thu nhập của các quỹ tài chính nhà nước và quỹ khác của Nhà nước hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của pháp luật; thu nhập của tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng Việt Nam. Mười, phần thu nhập không chia của cơ sở thực hiện xã hội hoá trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, y tế và lĩnh vực xã hội hoá khác để lại để đầu tư phát triển cơ sở đó theo quy định của luật chuyên ngành về lĩnh vực giáo dục - đào tạo, y tế và lĩnh vực xã hội hoá khác; phần thu nhập hình thành tài sản không chia của hợp tác xã được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật hợp tác xã. Thu nhập thứ mười một là thu nhập từ chuyển giao công nghệ thuộc lĩnh vực ưu tiên chuyển giao cho tổ chức, cá nhân ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn 1.4 Kỳ tính thuế Theo thông tư 78/2014/TT-BTC, kỳ tính thuế được xác định theo năm dương lịch.
Trường hợp doanh nghiệp áp dụng năm tài chính khác với năm dương lịch thì kỳ tính thuế xác định theo năm tài chính áp dụng. Kỳ tính thuế đầu tiên đối với doanh nghiệp mới thành lập và kỳ tính thuế cuối cùng đối với doanh nghiệp chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, chuyển đổi hình thức sở hữu, sáp nhập, chia, tách, giải thể, phá sản được xác định phù hợp với kỳ kế toán theo quy định của pháp luật về kế toán.