CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 1. Những vấn đề chung về kiểm tra thuế đối với doanh nghiệp 1. Khái niệm, đặc điểm Theo định nghĩa được ghi nhận trong từ điển Tiếng Việt, kiểm tra là “Xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét. Khái niệm này hàm ý rằng, kiểm tra là hoạt động của chủ thể tác động vào đối tượng kiểm tra (có thể trực thuộc hoặc không trực thuộc) nhằm mục tiêu nắm bắt tình hình thực tế.
Theo Giáo trình Quản lý thuế (2010) của Học viện Tài chính do tác giả Lê Xuân Trường viết thì: “Kiểm tra thuế là hoạt động của cơ quan thuế trong việc xem xét tình hình thực tế của đối tượng kiểm tra, từ đó đối chiếu với chức năng, nhiệm vụ, yêu cầu đặt ra đối với đối tượng kiểm tra để có những nhận xét, đánh giá về tình chấp hành nghĩa thuế của đối tượng kiểm tra. Với cách hiểu như trên, kiểm tra thuế có các đặc điểm cơ bản như sau: Kiểm tra thuế có phạm vi rộng: Đối tượng kiểm tra của hoạt động kiểm tra thuế mọi tổ chức và cá nhân trong xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của các luật thuế. Kiểm tra thuế là một công tác rất khó khăn, phức tạp: vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích kinh tế của NNT. Để giảm các khoản thuế phải nộp cho NSNN, NNT luôn tìm cách lợi dụng kẽ hở của pháp luật thuế và gây khó khăn cho công tác kiểm tra thuế.
Kiểm tra thuế là một lĩnh vực cần có năng lực chuyên môn cao và phẩm chất đạo đức tốt của công chức thuế đang công tác trong lĩnh vực này. Để xác định đúng nghĩa vụ thuế của đối tượng được kiểm tra, công chức thuế phải có tinh thần học hỏi, trau dồi các chính sách pháp luật về thuế, có kinh nghiệm trong đa lĩnh vực, đa ngành nghề vì mỗi một đối tượng nộp thuế lại hoạt động trong một lĩnh vực khác nhau, công chức thuế còn phải vô cùng nhạy bén trong quan sát, có tư duy logic tốt,…. Đồng thời, người cán bộ kiểm 6 tra thuế phải có phẩm chất đạo đức tốt, bản lĩnh chính trị vững vàng, không có biểu hiện tiêu cực, sách nhiễu, tham nhũng vì thường xuyên phải làm việc trong môi trường có sự cám dỗ về vật chất. Vai trò của kiểm tra thuế Công tác kiểm tra thuế góp phần quan trọng trong công tác quản lý thuế.
Cụ thể như sau: Đầu tiên, kiểm tra thuế có vai trò phát hiện kịp thời những nhầm lẫn, sai sót của NNT để khắc phục, sửa chữa giảm thiểu thiệt hại ngân sách nhà nước; nhằm giúp NNT thực hiện đúng quy định của pháp luật về thuế. Thứ hai, thông qua kiểm tra thuế để phát hiện và ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật thuế, trốn thuế, gian lận thuế, đảm bảo số tiền thuế được nộp đầy đủ và kịp thời theo quy định pháp luật vào NSNN.[5] Thứ ba, kiểm tra thuế có vai trò như một hồi chuông cảnh báo nếu NNT có ý định thực hiện các hành vi trốn thuế, gian lận thuế. Với việc thực hiện công tác kiểm tra định kỳ có hiệu quả, NNT sẽ nhận thức được nếu họ vi phạm pháp luật chắc chắn sẽ bị phát hiện và bị xử lý theo quy định của pháp luật. Do đó, NNT phải cân nhắc giữa lợi ích có thể đạt được của việc trốn thuế với khả năng bị xử lý sau khi bị kiểm tra và xác minh.
Thứ tư, công tác kiểm tra thuế sẽ tiếp xúc với nhiều loại hình doanh nghiệp và gặp phải nhiều trường hợp cụ thể đôi khi pháp luật hiện hành chưa có hướng dẫn cụ thể, vì vậy công tác kiểm tra thuế có vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện chính sách pháp luật thuế. Cuối cùng, kiểm tra thuế góp phần tăng cường tính minh bạch và công bằng trong xã hội. Khi NNT có sai phạm trong quá trình hoạt động, công tác kiểm tra thuế sẽ là công cụ hữu hiệu của Nhà nước để phát hiện và xử lý các vi phạm này đảm bảo xử đúng xử đủ. Để NNT thấy được sự nghiêm minh của pháp luật thuế.
Nguyên tắc kiểm tra thuế Thứ nhất, tuân thủ pháp luật. Quy trình kiểm tra thuế đã được ban hành theo quy định của pháp luật và Tổng cục Thuế cũng đã sử dụng các ứng dụng riêng biệt phục vụ công tác kiểm soát quy trình kiểm tra thuế. Các công chức được giao nhiệm vụ kiểm tra thuế phải tuân theo các quy định của pháp luật, tuân theo quy trình kiểm tra thuế đã được ban hành trên tinh thần thượng tôn pháp luật. Thứ hai, trung thực, chính xác, khách quan.
Hoạt động kiểm tra thuế đều phải được phản ánh một cách trung thực về tình hình hoạt động của doanh nghiệp; số liệu trong cuộc kiểm tra phải được thể hiện chính xác căn cứ vào thực tế hóa đơn chứng từ của NNT. Hoạt động kiểm tra phải đứng trên tinh thần khách quan, không thiên vị, không định kiến, không áp đặt. Thứ ba, công khai, dân chủ, kịp thời. Tính công khai thể hiện ở việc cán bộ phải thông qua văn bản quy định pháp luật thông báo đầy đủ nội dung kiểm tra, địa điểm kiểm tra, phải tiếp xúc công khai với đối tượng NNT, công khai kết luận kiểm tra.
Tính dân chủ, kịp thời thể hiện rõ rệt khi người nộp thuế được quyền giải trình trước cơ quan thuế tất cả những sự chênh lệch số liệu nhằm tránh biểu hiện chủ quan, áp đặt, bất chấp ý kiến của người khác, đồng thời giúp cơ quan quản lý nhà nước xử lý kịp thời những phát hiện qua kiểm tra thuế. Một số phương pháp kiểm tra 1. Phương pháp đối chiếu, so sánh Phương pháp đối chiếu so sánh là phương pháp kiểm tra được sử dụng chủ yếu trong quá trình kiểm tra thuế. Khi thực hiện phương pháp này, cán bộ kiểm tra thuế thực hiện đối chiếu giữa số liệu từ hóa đơn, chứng từ với số liệu trên sổ sách kế toán, đối chiếu số liệu đơn vị hạch toán với thực tế hàng hóa trong kho, đối chiếu giữa số liệu trên sổ sách kế toán với số liệu trên tờ khai thuế GTGT, tờ khai quyết toán thuế TNDN, tờ khai quyết toán thuế TNCN, 8 báo cáo tài chính và các tờ khai phát sinh từng lần.
Sau đó, công chức kiểm tra thuế sẽ đối chiếu số liệu kê khai của NNT với các văn bản quy phạm pháp luật về thuế, đối chiếu số liệu của NNT với các doanh nghiệp có cùng ngành nghề, cùng quy mô kinh doanh. Phương pháp kiểm tra đi từ tổng hợp đến chi tiết Phương pháp này yêu cầu trước hết, cán bộ kiểm tra thuế, kiểm tra số liệu tổng hợp sau đó mới kiểm tra số chi tiết. Việc kiểm tra số liệu tổng hợp được tiến hành với các số liệu đã được tổng hợp theo nội dung kinh tế, phản ánh trên các báo cáo tài chính, tờ khai quyết toán… Từ việc phân tích đối chiếu trên tài liệu tổng hợp rút ra nhận xét những bất thường trên từ đó đi sâu đối chiếu theo các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, thể hiện trên hóa đơn, hồ sơ, chứng từ. Các phương pháp sử dụng để kiểm tra chứng từ gốc Có 3 phương pháp cụ thể để kiểm tra chứng từ gốc.[9]: Thứ nhất, kiểm tra chứng từ theo trình tự thời gian.
Đây là phương pháp xuyên suốt thời kỳ kiểm tra đòi hỏi phải mất nhiều thời gian. Thứ hai, kiểm tra theo loại nghiệp vụ: áp dụng khi NNT báo cáo trên tờ khai và báo cáo tài chính có hiện tượng sai lệch và không hợp lý trong phương pháp kế toán. Đây là phương pháp thực hiện trong thời gian ngắn nhưng có hiệu quả công việc cao nên được sử dụng phổ biến và thườn xuyên. Thứ ba, kiểm tra điển hình.
Khi trong quá trình hoạt động NNT có nhiều nghiệp vụ kinh tế phát sinh và phức tạp không thể làm chi tiết tất cả. Do đó cán bộ kiểm tra thuế sẽ lựa chọn ngẫu nhiên các nghiệp vụ có biểu hiện nghi vấn để kiểm tra. Các phương pháp kiểm tra bổ trợ Tuy các phương pháp chính đã nêu ở trên giúp cho việc quản lý thuế đạt hiệu quả cao nhưng sẽ không toàn diện nếu thiếu các phương pháp bổ trợ khi tiến hành công tác kiểm tra về thuế như sau: Phương pháp thẩm tra và xác nhận từng phần: nhằm đảm bảo kết luận 9 kiểm tra về từng nội dung một cách chính xác, trung thực, khách quan. Khi kiểm tra phải căn cứ vào nguồn dữ liệu, nguồn thông tin chính xác để đảm bảo tính khớp đúng số liệu.
Trong quá trình kiểm tra phải có biên bản xác nhận về từng phần những công việc đã đối chiếu, trên cơ sở đó đi đến xác nhận toàn bộ. Các phương pháp toán học: áp dụng các phép toán để tổng hợp từ các sổ sách chi tiết đến tổng hợp phải logic và phù hợp với hạch toán kế toán. Các hình thức kiểm tra 1. Phân loại theo thời gian Các hình thức kiểm tra được phân loại theo thời gian bao gồm kiểm tra thường xuyên và kiểm tra đột xuất: Thứ nhất, kiểm tra thường xuyên: kiểm tra theo kế hoạch hàng năm đã được phê duyệt và phân loại theo phần mềm phân tích rủi ro của ngành Thuế.
Thứ hai, kiểm tra đột xuất: Kiểm tra theo chuyên đề năm hoặc đối với những trường hợp qua kiểm tra tại bàn có dấu hiệu rủi ro đơn vị chưa giải trình được hoặc doanh nghiệp giải thể, chia tách, doanh nghiệp có công văn xin được kiểm tra thuế. Phân loại theo phạm vi Với tiêu thức này, kiểm tra thuế chia làm hai loại, đó là: Thứ nhất, kiểm tra từng phần: áp dụng đối với một sắc thuế nhất định như sắc thuế GTGT, TNDN, TNCN hoặc một phần của qui trình thu nộp. Thứ hai, kiểm tra toàn phần: Kiểm tra toàn bộ quá trình kê khai nộp thuế với tất cả các sắc thuế có liên quan của một NNT theo thời kỳ kiểm tra. Phân loại theo địa điểm tiến hành kiểm tra Thứ nhất, kiểm tra tại bàn hay kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế Cơ quan thuế không đến làm việc tại cơ sở kinh doanh mà thông qua kiểm tra các hồ sơ liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế là các báo cáo tài chính, các tờ khai thuế mà cơ quan thuế thu thập, từ đó ban hành văn bản yêu cầu người nộp thuế thông báo giải trình, người nộp thuế căn cứ vào yêu cầu 10 của cơ quan thuế, cung cấp cho cơ quan thuế nhưng hồ sơ tài liệu cần thiết.
Thứ hai, kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế Hoạt động kiểm tra thuế được tiến hành tại trụ sở NNT.