Chương 1: Trình bày khái niệm, bản chất, chức năng và vai trò của thuế GTGT trong ổn định và phát triển kinh tế. Các nguyên tắc cơ bản xây dựng thuế GTGT hướng vào kích thích kinh tế. Một số mâu thuẫn nảy sinh khi sử dụng công cụ thuế trong phát triển kinh tế. Kinh nghiệm sử dụng thuế GTGT tác động đến ổn định và phát triển kinh tế ở một số nước trên thế giới.
Chương 2: Khái quát quá trình ra đời của thuế GTGT ở Việt Nam. Sự cần thiết phải sử dụng thuế GTGT thay thế thuế Doanh thu. Những thách thức trong quá trình sử dụng thuế GTGT. Đánh giá tác động của thuế GTGT đến ổn định và phát triển kinh tế Việt Nam từ năm 1999 đến nay.
Những hạn chế về chính sách, quản lý và tổ chức thu thuế ảnh hưởng đến vai trò kích thích kinh tế của thuế GTGT. Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao vai trò của thuế GTGT trong ổn định và phát triển kinh tế Việt Nam. Trong đó, chủ yếu các giải pháp về chính sách thuế GTGT, giải pháp về nâng cao năng lực Bộ máy quản lý thuế và một số giải pháp hỗ trợ. Khái niệm, bản chất và chức năng của thuế GTGT.
Khái niệm thuế GTGT. Thuế giá trị gia tăng (GTGT) (tiếng Pháp là: Taxe sur la valeur Ajoutéc – TVA, tiếng Anh là: Value Added Tax – VAT) là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Giá trị gia tăng là giá trị tăng thêm đối với một sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ do cơ sở sản xuất, chế biến, buôn bán hoặc dịch vụ tác động vào nguyên, vật liệu thô hay hàng hóa mua vào, làm cho giá trị của chúng tăng thêm. Hay nói cách khác, đây là số chênh lệch giữa “giá đầu ra” với “giá đầu vào” do đơn vị kinh tế tạo ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.
Bản chất của thuế GTGT. Thuế GTGT là loại thuế gián thu, được thu theo phân đoạn trong quá trình sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ từ khâu đầu tiên đến người tiêu dùng, thì khép kín một chu kỳ kinh tế. Đến cuối chu kỳ, tổng số thuế thu được ở các công đoạn sẽ khớp với số thuế tính cho người tiêu dùng cuối cùng. Do đó, các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ dù qua nhiều khâu hay ít khâu trong quá trình kinh doanh đều chịu thuế như nhau.
Số thuế này sẽ do các tổ chức, cá nhân tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ (gọi chung là người tiêu dùng) chịu thuế dưới dạng trả tiền mua hàng hóa, dịch vụ. Tiêu dùng hiểu theo nghĩa rộng chung của xã hội bao gồm dùng cho sản xuất, kinh doanh, dùng cho các hoạt động không kinh doanh và tiêu dùng cá nhân. Trái lại, các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ được đánh thuế, gọi chung là cơ sở kinh doanh (CSKD) phải nộp thuế GTGT thông qua việc mua hàng hóa, dịch vụ dùng vào sản xuất, kinh doanh. Thực chất chỉ là việc trả (nộp) trước thuế GTGT, khoản thuế này sẽ được chuyển tiếp tới người tiêu dùng.
Vì vậy, CSKD đóng vai trò là người thu và nộp thuế GTGT vào NSNN thay cho người tiêu dùng. Thuế GTGT có tính trung lập cao. Tính trung lập thể hiện ở hai khía cạnh: + Một là, thuế GTGT không chịu ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh của người nộp thuế, do người nộp thuế chỉ là người “thay mặt” người tiêu dùng nộp hộ khoản thuế này vào NSNN. Do vậy, thuế GTGT không phải là yếu tố chi phí sản xuất mà chỉ đơn thuần là một khoản thu được cộng vào giá bán của người cung cấp hàng hóa, dịch vụ.
123doc 5 + Thứ hai, thuế GTGT không bị ảnh hưởng bởi quá trình tổ chức và phân chia quá trình sản xuất kinh doanh, bởi tổng số thuế ở tất cả các giai đoạn luôn bằng số thuế tính trên giá bán ở giai đoạn cuối cùng bất kể số giai đoạn nhiều hay ít. Chức năng của thuế GTGT trong nền kinh tế. Chức năng tái phân phối thu nhập xã hội. Xuất phát từ bản chất, chức năng hàng đầu của thuế là tái phân phối thu nhập xã hội – còn gọi là chức năng thu ngân sách.
Thông qua chức năng này, thuế động viên một phần thu nhập của khu vực tư tạo nên thu nhập nhà nước. Tính cần thiết của quá trình này được minh chứng qua thực tiễn là khu vực tư không thể cung cấp hoặc cung cấp kém hiệu quả những sản phẩm công cộng bởi hoạt động sản suất và trao đổi sản phẩm giữa doanh nghiệp và hộ gia đình diễn ra theo cơ chế thị trường. Do đó, trong nền kinh tế thị trường, nếu thiếu vắng hoạt động của chính phủ thì các cá nhân và hộ gia đình thu nhập thấp không có cơ hội thụ hưởng lợi ích tối thiểu của đời sống cộng đồng. Một mặt, nhà nước cung cấp các dich vụ phúc lợi công cộng như : y tế, giáo dục, trợ cấp xã hội, hưu bổng.Mặt khác, bằng nhiều chính sách, nhà nước can thiệp trực tiếp vào kinh tế nhằm tạo môi trường thuận lợi cho sự hoạt động hữu hiệu của khu vực tư.
Nguồn vật chất dồi dào, chắc chắn và thường xuyên để tài trợ cho các họat động này chỉ có thể đến bằng cách đánh thuế vào khu vực tư. Chức năng điều tiết kinh tế vĩ mô. Cũng trong bối cảnh kinh tế thị trường, chức năng thứ nhất – tái phân phối, của thuế mở đường chức năng thứ hai: điều tiết kinh tế vĩ mô. Khi đó thuế trở thành một tác nhân của quá trình tái sản xuất xã hội.
Trước hết, thuế tác động vào tổng cầu, làm thay đổi thu nhập khả dụng tại khu vực tư, qua đó gián tiếp tác động đến tổng cung (GDP). Ngoài ra thuế còn tác động đến tốc độ tăng trưởng GPD và các nhân tố sản xuất, điều chỉnh cơ cấu GDP, điều tiết xuất nhập khẩu và chính sách kinh tế đối ngoại, thu hút đầu tư trong và ngoài nước,… Chức năng tái phân phối thu nhập chỉ ra chiều hướng vận động thu nhập từ khu vực tư đến khu vực công. Chức năng điều tiết kinh tế cho thấy hướng tác động bằng công cụ thuế từ nhà nước xuống doanh nghiệp và hộ gia đình. Chức năng thứ nhất tạo điều kiện thực hiện chức năng thứ hai.
Tuy nhiên, ở những giai đoạn kinh tế phát triển nhất định, lạm dụng chức năng tái phân phối thu nhập theo hướng chỉ có lợi cho nhà 123doc 6 nước sẽ đần thủ tiêu động lực kích thích phát triển của khu vực tư, và đồng nghĩa với việc vô hiệu hóa chức năng điều chỉnh kinh tế của thuế. Mặt khác, thực tế cũng cho thấy, nếu dùng thuế điều tiết kinh tế bằng việc ấn định thuế suất phân biệt quá mức giữa các ngành, nghề thì có thể dẫn đến hành vi đầu tư kém hiệu quả chỉ vì lựa chọn thuế suất thấp. Do đó, quá trình vận dụng hai chức năng trên đòi hỏi phải thích ứng từng giai đoạn phát triển kinh tế-xã hội. Vai trò của thuế GTGT trong phát triển kinh tế.
Thuế GTGT tạo số thu chủ yếu cho ngân sách nhà nước. Với mục đích tìm nguồn vật chất tài trợ công chi, chính phủ có thể sử dụng nhiều phương thức ngoài thuế, như: quyên góp dân chúng, xin viện trợ từ nước ngoài, vay trong và ngoài nước, cho thuê công sản, bán tài nguyên thiên nhiên khai thác được, đầu tư kinh doanh,phát hành tiên,…. Song chúng không thể tạo ra số thu vừa dồi dào, bền vững vừa kịp thời cho nhà nước. Chỉ duy nhất thuế tạo được nguồn thu như vậy.
Từ đó khẳng định, tạo nguồn thu chủ yếu cho nhà nước là vai trò độc tôn của thuế. Để thật sự giữ đúng vai trò tạo số thu quan trọng nhất vào ngân sách nhà nước, thuế phải bao quát mọi hoạt động kinh doanh: chế biến, sữa chữa, chế tạo, khai thác, xây dựng, vận tải, buôn bán, ăn uống, dịch vụ…, mọi nguồn thu nhập: thường xuyên, không thường xuyên, và mọi hoạt động tiêu dùng xã hội. Một nền tài chính quốc gia chỉ lành mạnh khi dựa chủ yếu vào nguồn thu nội bộ nền kinh tế. Nguồn thu đó chính là thu nhập quốc dân nội địa.
Mọi sự trông cậy, dựa vào bên ngoài điều mang lại những hậu quả xấu và kéo dài. Nhằm đảm bảo nguồn vật chất cung ứng kịp thời cho nhu cầu chi thường xuyên, ngay cả khi nền kinh tế có những biến động không thuận lợi, thuế gián thu cần luôn được coi trọng, bởi tính ổn định của nó tốt hơn tính ổn định của thuế trực thu. Thuế gián thu dựa trên cơ sở tiêu dùng xã hội mà xã hội thì không thể ngừng tiêu dùng cho dù nền kinh tế bị khủng hoảng. Việc coi trọng thuế gián thu còn xuất phát từ nguyên lý: đánh thế vào những gì mà người chịu thuế lấy đi của xã hội sẽ có tác dụng tốt hơn là đánh vào những gì mà đối tượng chịu thuế nhập vào cho xã hội.
Hơn nữa, do cơ chế đánh thuế lồng vào giá bán nên thuế gián thu sẽ được người chịu thuế dễ dàng chấp nhận, đôi khi còn ‘kiêu hãnh’ khi trả giá cho sự tiêu dùng cao cấp của mình. Thuế GTGT thuộc loại thuế đánh vào tiêu dùng, được áp dụng rộng rãi đối với mọi tổ chức, 123doc 7 cá nhân có tiêu dùng sản phẩm, hàng hóa, hoặc được dung ứng dịch vụ, nên có thể tạo được nguồn thu lớn cho ngân sách Nhà nước. Thông qua thuế, một phần tổng sản phẩm quốc nội được động viên để hình thành ngân sách nhà nước. Tuy nhiên nếu nhà nước dùng sức mạnh để tái phân phối quá mức GDP thì phần thuộc về doanh nghiệp và gia đình giảm xuống.
Họ sẽ cảm thấy công sức bỏ vào kinh doanh ngầm nhằm trốn thuế hoặc chấm dứt kinh doanh. Nói cách khác, nếu nhà nước ngày càng tăng áp lực thu, người nộp thuế càng bị thôi thúc trốn thuế bởi một mãnh lực vô hình. Do đó, khi tái phân phối thu nhập xã hội bằng thuế phải chú ý đến khả năng thụ thuế của từng doanh nghiệp và cá nhân. Khả năng thụ thuế là tỷ lệ tối đa từ thu nhập mà doanh nghiệp và người dân sẵn sàng trích ra để trả thuế mà không làm thay đổi hoạt động vốn của họ.
Đứng ở góc độ nền kinh tế quốc dân, khả năng thụ thuế của một đất nước cho thấy tỷ phần bình quân của thu nhập xã hội được động viên thông qua thuế.