CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ VÀ KIỂM TRA THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Cơ sở lý luận về thuế Thuế gắn liền với sự tồn tại, phát triển của Nhà nước và là một công cụ quan trọng mà bất kỳ quốc gia nào cũng sử dụng để thực thi chức năng, nhiệm vụ của mình. Tùy thuộc vào bản chất của Nhà nước và cách thức Nhà nước sử dụng, các nhà kinh tế có nhiều quan điểm về thuế khác nhau. Khái niệm thuế Có nhiều khái niệm về thuế được đưa ra nhưng do các khái niệm này đưa ra phụ thuộc vào các lĩnh vực, góc độ nghiên cứu khác nhau nên đến nay vẫn chưa có khái niệm thống nhất.
Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy Nhà nước, là thủ đoạn đơn giản để kho bạc thu được tiền hay sản vật mà người dân phải đóng góp để dùng vào mọi việc chi tiêu của Nhà nước. Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có sự đóng góp của công dân cho Nhà nước, đó là thuế (Marx and Engels, 1962). Một định nghĩa về thuế tương đối hoàn chỉnh được nêu lên trong cuốn Kinh tế học của hai nhà kinh tế Mỹ Makkollhell và Bruy: “Thuế là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc chuyển giao bằng hàng hóa, dịch vụ) của các công ty và các hộ gia đình cho Chính phủ, mà trong sự trao đổi đó họ không nhận được một cách trực tiếp hàng hóa dịch vụ nào cả, khoản nộp đó không phải là tiền phạt mà tòa án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật”. Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thề nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật qui định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng (Nguyễn Thị Liên and Nguyễn Văn Hiệu, 2009).
Tuy còn nhiều khác biệt về khái niệm, nhưng một cách tổng quát có thể hiểu Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc bằng tiền hoặc hiện vật từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng. Đặc điểm và vai trò của thuế Bản chất của thuế được hiểu rõ hơn thông qua việc tìm hiểu đặc điểm của nó. Thuế có các đặc điểm cơ bản như tính bắt buộc, tính không hoàn trả trực tiếp, tính pháp lý cao (Nguyễn Thị Liên and Nguyễn Văn Hiệu, 2009). Thuế có hai vai trò chính, thứ nhất là huy động nguồn lực tài chính cho Nhà nước, thứ hai là điều tiết kinh tế vĩ mô (Nguyễn Thị Liên and Nguyễn Văn Hiệu, 2009): Huy động nguồn lực tài chính cho Nhà nước Thuế là nguồn thu chủ yếu và quan trọng đối với hầu hết các quốc gia trên thế giới, tỷ trọng thu thuế thường chiếm khoảng 80% trong tổng thu ngân sách.
Tại Việt Nam, tỷ trọng thu thuế chiếm khoảng 90% tổng thu ngân sách. Điều tiết kinh tế Vĩ mô Thứ nhất, thuế có thể được sử dụng như một công cụ nhạy bén góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định giá cả, kích thích đầu tư tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững. Thứ hai, thuế được cọi là công cụ sắc bén để phân phối lại sản phẩm xã hội nhằm đạt mục tiêu công bằng xã hội. Thuế có thể thực hiện được những mục tiêu công bằng này nếu nó bao quát được hầu hết các đối tượng nộp thuế và phân biệt mức đóng góp thông qua các mức thuế suất khác nhau, đặc biệt là thuế suất lũy tiến theo thu nhập.
Thứ bai, thuế còn được coi là công cụ sắc bén được sử dụng nhằm đạt mục tiêu bảo hộ sản xuất nội địa và duy trì, tăng cường khả năng cạnh tranh của nền kinh tế trong điều kiện hội nhập quốc tế. Cơ sở lý luận KTT 1. Khái niệm KTT Kiểm tra, theo từ điển tiếng Việt, có nghĩa là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét. Ở góc độ khác, theo từ điển luật học, kiểm tra là xem xét tình hình thực tế thi hành pháp luật, thực hiện nhiệm vụ quyền hạn nói chung hay một công tác cụ thể được giao để đánh giá, nhận xét v.
10 Kiểm tra là một chức năng quản trị liên quan đến quá trình theo dõi, so sánh, và điều chỉnh hoạt động công việc. Kiểm tra là một quá trình ba bước gồm đo lường hoạt động thực tế, so sánh thực tế với tiêu chuẩn, và tiến hành hoạt động quản trị để điều chỉnh sai lệch hoặc các tiêu chuẩn chưa đầy đủ (Robbins and Coulter, 2016). KTT là hoạt động nhằm kiểm tra tính trung thực, tính chính xác của của cơ sở tính thuế mà NNT đã kê khai (Bouvier, 2005). Ở một góc độ khác, KTT là hoạt động của cơ quan thuế trong việc xem xét tình hình thực tế của đối tượng kiểm tra, từ đó đối chiếu với chức năng, nhiệm vụ yêu cầu đặt ra đối với đối tượng kiểm tra để có những nhận xét, đánh giá (Nguyễn Thị Bất and Vũ Duy Hào, 2002).
Tổng quát chung có thể hiểu, KTT là hoạt động xem xét, đánh giá của cơ quan thuế các cấp đối với các cơ quan, tổ chức và cá nhân chịu sự quản lý trong việc thực hiện pháp luật về thuế. KTT là một trong bốn chức năng cơ bản của quản lý thuế theo mô hình chức năng. Bên cạnh việc tôn trọng kết quả tự tính, tự khai, tự nộp thuế của NNT, cơ quan thuế thực hiện các biện pháp giám sát hiệu quả vừa đảm bảo khuyến khích sự tuân thủ tự nguyện, vừa đảm bảo phát hiện ngăn ngừa các trường hợp vi phạm pháp luật thuế. KTT là một biện pháp hữu hiệu nhằm phát hiện ngăn ngừa vi phạm, giúp NNT nhận thấy luôn có một hệ thống giám sát hiệu quả tồn tại và kịp thời phát hiện các hành vi vi phạm của họ.
Phân loại KTT KTT chia thành nhiều loại khác nhau tùy theo tiêu thức phân loại: Theo yếu tố thời gian có loại kiểm tra thường xuyên và kiểm tra bất thường; theo yếu tố phạm vi có kiểm tra từng phần và kiểm tra toàn phần; theo địa điểm tiến hành kiểm tra có kiểm tra tại bàn (tại cơ quan thuế) và kiểm tra tại cơ sở kinh doanh. Nội dung KTT Hoạt động KTT của cơ quan thuế nhằm kiểm tra tính đầy đủ, chính xác của các thông tin, tài liệu trong hồ sơ thuế nhằm đánh giá sự tuân thủ pháp luật về thuế của NNT. 11 Đối với kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế Cơ quan thuế thực hiện việc kiểm tra nội dung kê khai trong hồ sơ khai thuế (Tờ khai thuế và các phụ lục của tờ khai theo quy định của pháp luật), đối chiếu với cơ sở dữ liệu của NNT và tài liệu có liên quan về NNT, để phân tích, đánh giá tính tuân thủ hoặc phát hiện các trường hợp khai chưa đầy đủ dẫn tới việc thiếu thuế hoặc trốn thuê, gian lận thuế. Đối với kiểm tra tại trụ sở NNT Kiểm tra tại trụ sở NNT có hai nội dung là kiểm tra, đối chiếu số liệu tổng hợp và kiểm tra chi tiết, lập hồ sơ chứng lý tại trụ sở NNT.
Các nội dung kiểm tra đối chiếu số liệu tổng hợp gồm: - Kiểm tra hồ sơ đăng ký kinh doanh, đăng ký nộp thuế, mã số thuế, tình hình đăng ký sử dụng hóa đơn. - Kiểm tra đối chiều tài liệu, hồ sơ gửi cơ quan thuế với thực tế xuất trình của DN: báo cáo quyết toán tài chính quý, năm, tờ khai thuế GTGT, tờ khai thuế thu nhập DN tạm nộp theo quý, tờ khai thuế thu nhập DN tự quyết toán năm và các tờ khai thuế, tờ khai quyết toán thuế khác liên quan đến nội dung ghi tại quyết định kiểm tra. - Kiểm tra việc mở sổ và tính hợp pháp: sổ cái, các sổ theo dõi chi tiết theo các chuẩn mực kế toán nhà nước quy định, đối chiếu số liệu tổng hợp giữa các sổ chi tiết với bảng cân đối số phát sinh và bảng tổng kết tài sản. Ngoài ra, tùy theo từng trường hợp cụ thể cần kiểm tra xem xét các tài liệu, hồ sơ liên quan khác: số thuế đầu kỳ trước chuyển sang, xác nhận của cơ quan thuế, cơ quan kho bạc nhà nước về số nộp ngân sách trong kỳ, các tài liệu liên quan đến hoàn thuế, miễn giảm thuế v.
Kiểm tra chi tiết, lập hồ sơ chứng lý tại trụ sở nộp thuế gồm các nội dung sau: - Kiểm tra sổ sách, chứng từ và các hồ sơ liên quan đến nội dung KTT. - Kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ kinh tế phát sinh: đối chiếu số liệu hạch toán, số liệu tính, kê khai, thu nộp thuế và hạch toán thực tế của DN với các chuẩn mực nhà nước quy định (quy định luật, pháp lệnh thuế và các 12 văn bản hướng dẫn thi hành; các cơ chế tài chính và chuẩn mực kế toán nhà nước ban hành. - Thực hiện lập hồ sơ chứng lý kiểm tra. Hồ sơ chứng lý được coi là tài liệu gốc để lập biên bản kiểm tra gồm: các biên bản ghi nhận kết quả đối chiếu; các bản sao chụp các tài liệu có liên quan kể cả các bức ảnh, đoạn băng ghi lại những sự việc làm sai của DN (phân tán kho quỹ, cất giấu chứng từ, tài liệu v.
- Trường hợp cần thiết phải giám định tài liệu, cần lập biên bản thu giữ tài liệu ghi rõ tình trạng của tài liệu đó (kể cả hiện vật nếu có) để yêu cầu cơ quan có trách nhiệm giám định. Quy trình KTT Quy trình KTT là các trình tự và bước công việc cụ thể bắt buộc phải tuân thủ khi thực hiện KTT, một chương trình kiểm tra hay một kế hoạch kiểm tra cụ thể. Ngoài công tác lập kế hoạch kiểm tra hàng năm và công tác báo cáo thực hiện kết quả KTT bao gồm một loạt các bước ăn khớp với nhau từ lúc cán bộ kiểm tra nhận hồ sơ cho đến khi hoàn thành. Đối với hồ sơ kiểm tra tại cơ quan thuế (kiểm tra tại bàn) thì các bước tiến hành KTT như sau: Bước 1: Cập nhật dữ liệu, cán bộ kiểm tra độc hồ sơ khai thuế qua mạng; Bước 2: Ban hành thông báo giải trình các nội dung có dầu hiệu rủi ro gửi đến NNT; Bước 3: Kiểm tra đối chiếu các nội dung yêu cầu NNT giải trình; Bước 4: Cơ quan thuế đề nghị NNT điều chỉnh hồ sơ khai thuế nếu phát hiện sai lệch.
Đối với hồ sơ kiểm tra tại cơ quan thuế (kiểm tra tại bàn) thì các bước tiến hành KTT như sau: Bước 1: Căn cứ kế hoạch được giao đã phân tích rủi ro cao, đoàn kiểm tra độc hồ sơ khai thuế qua mạng.